Bảo vệ 'hành lang xanh' ven biển Việt Nam: Giải pháp cho sự phát triển bền vững
Bờ biển Việt Nam đang chịu áp lực nặng nề từ sự phát triển nóng của các ngành kinh tế ven biển, tốc độ đô thị hóa nhanh, cùng với tác động ngày càng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu (BĐKH), xói lở, bão, và nước biển dâng.
Bờ biển Việt Nam đối mặt với thách thức kép
Với hơn 3.260 km bờ biển trải dài, Việt Nam sở hữu vùng bờ có giá trị chiến lược lớn về kinh tế, môi trường, quốc phòng, và chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, vùng bờ đang chịu áp lực nặng nề từ sự phát triển nóng của các ngành kinh tế ven biển, tốc độ đô thị hóa nhanh, cùng với tác động ngày càng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu (BĐKH), xói lở, bão, và nước biển dâng. Điều này đặt ra câu hỏi cấp bách: Làm thế nào để khai thác hiệu quả tài nguyên biển đồng thời bảo vệ bờ biển, hướng tới phát triển bền vững?

Hành Lang bảo vệ bờ biển có ý nghĩa quan trọng bảo vệ hệ sinh thái, giảm thiểu thiệt hại do xói lở bở biển và đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển. - Ảnh: NVCC
Xuất phát từ thực tế này, nhóm nhà khoa học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia: “Nghiên cứu xây dựng mô hình và giải pháp lồng ghép hành lang bảo vệ bờ biển trong quản lý tổng hợp vùng bờ biển ở Việt Nam”, mã số KC.09.02/21-30, do PGS.TS. Đặng Kinh Bắc làm Chủ nhiệm.
Hành lang bảo vệ bờ biển: Vai trò then chốt và thực trạng triển khai
Hành lang bảo vệ bờ biển (HLBVBB) là dải đất hẹp ven biển, có chiều rộng từ vài chục đến vài trăm mét, giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hệ sinh thái, tài sản, dân cư, cảnh quan tự nhiên, và phòng chống rủi ro thiên tai.
Theo Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo (2015), HLBVBB được thiết lập ở những khu vực cần thiết để: Bảo vệ hệ sinh thái, duy trì giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên ở vùng bờ; Giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó với BĐKH và nước biển dâng; Bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển.
Tính đến tháng 12.2024, sau hơn 8 năm Luật có hiệu lực, 27/28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển đã triển khai thiết lập HLBVBB, đạt tỉ lệ 96,42%. Đáng chú ý, hơn 60% các địa phương đã hoàn thành việc cắm mốc giới HLBVBB.
Tuy nhiên, công tác khảo sát thực tế cho thấy những hạn chế cần khắc phục:
Tỷ lệ đường bờ được thiết lập HLBVBB ở một số địa phương chỉ đạt dưới 50% tổng chiều dài đường bờ toàn tỉnh.
Chiều rộng HLBVBB ở một số khu vực chỉ đạt 20 - 30m, ranh giới trong nhiều nơi nằm ngay trên bãi biển, chưa đảm bảo yêu cầu.
Các địa phương xây dựng quy định quản lý HLBVBB nhưng chưa gắn quản lý HLBVBB với quản lý tổng thể vùng bờ biển (QLTHVBB).

Thành công của nghiên cứu sẽ góp phần mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế biển. - Ảnh: NVCC
Các nguy cơ tác động đến bờ biển không chỉ đến từ HLBVBB mà còn từ phía ngoài, cả về phía biển và lục địa. Do đó, việc bảo tồn và phát huy hiệu quả tài nguyên vùng bờ, đảm bảo sự ổn định của HLBVBB đòi hỏi phải có mô hình quản lý tích hợp, thống nhất giữa cả vùng bờ và HLBVBB.
Khoa học và công nghệ phét triển bền vững kinh tế biển
Đề tài KC.09.02/21-30 hướng tới xây dựng luận cứ khoa học và đưa ra các giải pháp, mô hình lồng ghép HLBVBB trong QLTHVBB. Mô hình này bao gồm mô hình tổng quát cho toàn quốc và mô hình triển khai ở các kiểu bờ đặc trưng (châu thổ, vũng vịnh,...) với sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Đặc biệt, đề tài triển khai mô hình trình diễn quy mô cấp tỉnh và liên xã tại phía nam thành phố Đà Nẵng, nơi ứng dụng công nghệ hiện đại. Điểm nhấn của mô hình trình diễn là việc tích hợp ứng dụng viễn thám, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ truyền thông với sự tham gia của cộng đồng trong giám sát biến động tài nguyên, môi trường, đặc biệt là biến động bờ biển - cửa sông, hệ sinh thái, rác thải bờ biển và quyền tiếp cận với biển.

PGS.TS. Đặng Kinh Bắc, Chủ nhiệm nhóm “Nghiên cứu xây dựng mô hình và giải pháp lồng ghép hành lang bảo vệ bờ biển trong quản lý tổng hợp vùng bờ biển ở Việt Nam”
Trao đổi với Một Thế Giới, PGS.TS. Đặng Kinh Bắc chia sẻ, công tác tích hợp quản lý này sẽ mang lại bốn hiệu quả chính:
Tối ưu hóa sử dụng đất: Đảm bảo các hoạt động diễn ra ở khu vực bờ biển không gây ảnh hưởng tiêu cực đến HLBVBB.
Bảo vệ môi trường và tài nguyên: Giảm thiểu sự phá hủy bờ biển, bảo vệ hệ sinh thái động vật và thực vật, hạn chế ô nhiễm.
Tăng cường hiệu quả của chính sách: Giúp đạt được mục tiêu bảo vệ và sử dụng tài nguyên bờ biển bền vững.
Tăng cường quản lý rủi ro: Đặc biệt trong việc phòng chống và ứng phó với các thảm họa thiên tai như bão, lũ lụt, sạt lở đất.
Hoàn thiện chính sách và mở rộng không gian kinh tế
Cũng theo PGS.TS. Đặng Kinh Bắc, thành công của nghiên cứu này mang ý nghĩa ứng dụng cao, phục vụ chiến lược phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển đảo.
Về mặt khoa học và quản lý: Việc xây dựng cơ sở lý luận, đặc biệt là bộ tiêu chí cho mô hình lồng ghép HLBVBB, sẽ đóng góp quan trọng cho việc hoàn thiện cơ sở lý luận về QLTHVBB. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để các cơ quan quản lý tham khảo, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý vùng bờ và HLBVBB, giúp các địa phương có kế hoạch tiếp cận mới trong quản lý.
Về kinh tế - xã hội và môi trường: Mô hình lồng ghép HLBVBB trong QLTHVBB hướng tới mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội. Mô hình này đảm bảo sự hài hòa giữa: Phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch biển đảo; Công bằng xã hội, đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển và lợi ích của các bên liên quan, hạn chế xung đột lợi ích; Bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, bảo tồn hệ sinh thái, giảm thiểu thiệt hại do xói lở, thích ứng BĐKH.
Không chỉ mang ý nghĩa quản lý, mô hình còn mở ra không gian phát triển mới cho các ngành kinh tế biển, như du lịch sinh thái bền vững, du lịch cộng đồng ven biển, và khai thác hợp lý thủy hải sản.
Thành công của nghiên cứu sẽ góp phần mở ra không gian phát triển mới cho ngành kinh tế biển, giúp Việt Nam bảo vệ tài nguyên biển, bảo vệ cộng đồng ven biển, và hướng tới tương lai bền vững, nơi người dân "không chỉ sống nhờ biển mà sống cùng biển, bảo vệ biển và hưởng lợi từ hệ sinh thái biển".










