Cuộc chơi thu hút FDI mới, khu công nghiệp Việt buộc phải 'thay da đổi thịt'
Hạ tầng khu công nghiệp sẽ không còn dừng lại ở việc cung cấp mặt bằng khi các nhà đầu tư FDI thế hệ mới đòi hỏi một hệ sinh thái toàn diện, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh.
Những yêu cầu mới với phát triển khu công nghiệp
Sau gần 40 năm đổi mới, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã thực hiện sứ mệnh quan trọng, đưa Việt Nam tham gia rộng hơn, trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu, đóng góp đáng kể vào GDP, vốn đầu tư, sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và việc làm.
Trong đó, các khu công nghiệp (KCN) đã và đang khẳng định vai trò là những trung tâm thu hút dòng vốn đầu tư, chiếm tới 70 – 80% tổng vốn đăng ký FDI của cả nước trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.
Tuy nhiên, những thay đổi của bối cảnh hiện tại đang đặt ra nhiều thách thức chưa từng có đối với mô hình KCN truyền thống của Việt Nam, ông Bạch Ngọc Tùng, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn SGroup Việt Nam – đơn vị phát triển nền tảng số hóa hệ thống các khu công nghiệp VietnamIZ, nhận định với TheLEADER ngày 28/11.

Ông Bạch Ngọc Tùng, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn SGroup Việt Nam
Ông cho biết, sự thay đổi trước hết đến từ các tiêu chí đầu tư. Các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới hiện nay không chỉ quan tâm đến hiệu quả tài chính mà còn chịu áp lực to lớn từ cổ đông và người tiêu dùng về các cam kết ESG (Môi trường, xã hội và quản trị).
Do đó, các tập đoàn này yêu cầu các địa điểm sản xuất phải có khả năng cung cấp năng lượng tái tạo, hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn tuần hoàn và minh bạch trong quản trị.
Bên cạnh đó, các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như EU, Mỹ đã thông báo về các quy định mới, như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon, Quy định chống phá rừng. Nếu các KCN tại Việt Nam không chuyển đổi xanh, hàng hóa sản xuất tại đây sẽ mất khả năng cạnh tranh hoặc bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu.
Không chỉ vậy, sự phát triển khu công nghiệp tại Việt Nam sẽ phải đối diện với cạnh tranh khu vực gay gắt, khi các quốc gia lân cận như Thái Lan, Indonesia, Malaysia đang đẩy mạnh các chính sách ưu đãi cho KCN thông minh và xanh để thu hút dòng vốn FDI trong lĩnh vực bán dẫn, xe điện và năng lượng mới.
Chia sẻ đồng quan điểm, bà Nguyễn Phương Nga, Phó tổng giám đốc Tập đoàn CNCTech tại Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách thu hút làn sóng FDI thế hệ mới vào các khu công nghiệp” chiều ngày 28/11, cho biết, các tập đoàn đa quốc gia hiện tìm kiếm những điểm đến có hệ sinh thái sản xuất ổn định, hạ tầng tin cậy, và mức độ sẵn sàng cao để đảm bảo tính linh hoạt của chuỗi cung ứng.
Điều này đặt ra yêu cầu rất lớn đối với hạ tầng KCN tại các nước tiếp nhận dòng vốn mới như Việt Nam.
Bà Nga nhấn mạnh, hạ tầng KCN hiện sẽ không còn dừng lại ở việc cung cấp mặt bằng đã san lấp hay nhà xưởng đơn thuần khi các nhà đầu tư FDI thế hệ mới, đặc biệt trong ngành công nghệ cao, điện tử, cơ khí chính xác, đòi hỏi một hệ sinh thái toàn diện.
Hệ sinh thái ấy cần bao gồm hạ tầng tiêu chuẩn quốc tế, logistics hiện đại, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp đầy đủ, khả năng tích hợp công nghệ, và đặc biệt là các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn ESG.
Từ quá trình tư vấn các doanh nghiệp FDI, luật sư Trần Đại Nghĩa, chuyên gia pháp lý dự án đầu tư, CEO Công ty Tư vấn Đầu tư FII Việt Nam, cũng nhấn mạnh, để thu hút FDI, Việt Nam không chỉ cần đầu tư các KCN sinh thái, KCN xanh mà cần đầu tư đồng bộ hệ thống công trình hạ tầng đi kèm để phục vụ các nhu cầu sinh hoạt, giải trí, tập luyện… của đội ngũ chuyên gia cũng như hệ thống nhà ở cho công nhân.
Hình thành hệ sinh thái giữa các địa phương, tránh cạnh tranh thu hút FDI bằng mọi giá
Tại diễn đàn, ông Nguyễn Quốc Khánh, Chủ tịch HĐQT DTJ Group, Liên minh công nghiệp G20 cho rằng để tăng cường hút vốn FDI chất lượng cao vào các KCN, Việt Nam cần tối ưu nguồn lực đất đai, cũng như xây dựng quy hoach vùng sản xuất để tối ưu cho chuỗi cung ứng.
“Các nhà đầu tư nước ngoài khi sang Việt Nam cần chuỗi cung ứng nguyên vật liệu nhưng các doanh nghiệp địa phương lại nằm dàn trải, không tập trung, dẫn đến chi phí đắt, sản xuất không hiệu quả”, ông chỉ ra vấn đề.
Thuế quan của Mỹ đã thúc đẩy các doanh nghiệp quốc tế dịch chuyển sang Việt Nam, do đó, hài hòa giữa quy hoạch vùng và quy hoạch nguồn nhiên liệu, quy hoạch nhân sự và quy hoạch hệ sinh thái xung quanh là yếu tố cần thiết để tăng hiệu quả sản xuất, cải thiện chi phí.
Với diện tích đất đai hiện nay, ông Khánh, kiến nghị, cần tối ưu nguồn đất cho những doanh nghiệp thuộc ngành nghề đặc thù cần ưu tiên sự tham gia của các doanh nghiệp FDI.
Đồng thời, cần quy định có mã số ngành riêng cho từng khu vực, từ đó hỗ trợ cho các doanh nghiệp địa phương tham gia vào chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp FDI.

Để thu hút FDI, Việt Nam không chỉ cần đầu tư các KCN sinh thái, KCN xanh mà cần đầu tư đồng bộ hệ thống công trình hạ tầng đi kèm. Ảnh: Hoàng Anh
Cùng quan điểm về quy hoạch và liên kết vùng, ông Tùng cho rằng, quy hoạch phát triển KCN phải được tích hợp chặt chẽ vào quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh, tuân thủ định hướng chuyên môn hóa; cần kiên quyết không cấp phép cho các KCN phát triển manh mún, thiếu hạ tầng xử lý thải hoặc xâm phạm các vùng sinh thái nhạy cảm.
Không chỉ vậy, cần thúc đẩy mô hình KCN liên kết vùng, nơi các địa phương lân cận phối hợp phân công chuỗi cung ứng. Đơn cử, một tỉnh làm trung tâm sản xuất linh kiện, tỉnh kia làm trung tâm lắp ráp và logistics, tránh cạnh tranh thu hút đầu tư bằng mọi giá.
Ngoài ra, “Chính phủ cần chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khu công nghiệp, tích hợp với các nền tảng số như VietnamIZ để tạo ra một cổng thông tin thống nhất, minh bạch và cập nhật theo thời gian thực. Dữ liệu này cần được chuẩn hóa và mở để phục vụ công tác xúc tiến đầu tư”, ông Tùng đề xuất.
Bên cạnh hệ sinh thái ổn định nhờ liên kết giữa các địa phương, sự minh bạch về yêu cầu xanh cũng sẽ giúp Việt Nam có định hướng và giải pháp rõ ràng.
Ông Trương Khắc Nguyên Minh, Phó tổng giám đốc CTCP Prodezi Long An – chủ đầu tư KCN Prodezi, cho biết, một trong những thách thức cơ bản là sự thiếu đồng bộ về khung chính sách và nhận thức giữa các cấp quản lý. Những khái niệm như “KCN sinh thái” hay “cộng sinh công nghiệp” vẫn được hiểu khác nhau, dẫn tới quy trình thẩm định, phê duyệt và cấp chứng nhận thiếu nhất quán.
Hệ quả là các chủ đầu tư gặp khó khi muốn đầu tư bài bản vào hạ tầng tuần hoàn, bởi chưa có bộ tiêu chí quốc gia rõ ràng, chưa phổ biến các hướng dẫn quốc tế như của UNIDO (Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc) để chuyển hóa thành quy chuẩn trong nước.
Do đó, cần sớm xây dựng Bộ Tiêu chí quốc gia cho KCN sinh thái, lồng ghép hướng dẫn quốc tế để đảm bảo tính thống nhất trong áp dụng, ông kiến nghị.











