Dấu ấn Thoại Ngọc Hầu ở miền tân cương
Tròn 200 năm trước, Bính Tuất (1826), Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại cho đắp con đường từ đồn Châu Đốc đến chân núi Sam với tên gọi 'Châu Đốc tân lộ kiều lương'. Con đường với 4 cây cầu dài 'hai ngàn bảy trăm tầm' (hơn 5km), được xây nên từ ý tưởng và bổng lộc, tiền của riêng ông. Nhưng cũng từ đây, xảy ra vụ án oan chỉ sau 3 năm ông qua đời.

Lăng Thoại Ngọc Hầu tại núi Sam, phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang. Ảnh: N.T
Từ trung tâm phường Châu Đốc (tỉnh An Giang), con đường giờ đây rộng thênh thang hơn 55 mét, với 6 làn ô tô, 2 làn xe gắn máy, 3 dải phân cách và vỉa hè mỗi bên rộng 6 mét, dẫn đến núi Sam tại phường Vĩnh Tế. Gốc tích nền móng con đường ấy đã được Thoại Ngọc Hầu khai mở tròn 200 năm - năm 1826, sau 2 năm hoàn thành việc đào kinh Vĩnh Tế.
Tư liệu về việc làm con đường này, giờ chỉ còn trong văn bản sao chép, dịch từ Châu Đốc tân lộ kiều lương bi ký được Thoại Ngọc Hầu cho khắc dựng năm Minh Mạng thứ 9 (1828).
Theo tư liệu này, ngày đó, từ đồn Châu Đốc đến núi Sam có đường mòn, bị ngăn cách bởi “đầm nước đọng, sâu không thể lội, men gò tới động, chẳng thể tránh vòng, không khỏi thuyền bè khó nhọc”. Thoại Ngọc Hầu “liền đem sự vụ bẩm trình, được y lời xin, bèn làm một con đường từ chân núi Vĩnh Tế, chạy ngang đầm nước, tới mé doanh đồn ra tận bến sông”.
Thoại Ngọc Hầu huy động 3.400 nhân công, đào đắp từ ngày 20 tháng Chạp năm Bính Tuất (1826) đến rằm tháng Tư năm Đinh Hợi (1827) thì hoàn thành. Điều đáng nói, không chỉ chủ động tâu trình việc làm đường, mà Nguyễn Văn Thoại còn “nguyện đem bổng lộc, phụ với của nhà để trang trải các chi phí” cho công trình này. Sau đó, năm 1828, từ ngày 18 tháng Giêng đến rằm tháng Tư, ông lại mướn nhân công, điều phu dịch gồm 1.000 người gia cố bồi bổ con đường, mỗi tháng một người được trả một quan tiền và một phương gạo…
Ban đầu, bề ngang con đường khoảng 4 tầm (8m), cao 8 thước (3,2m) và có 4 cây cầu - mỗi cầu lót 4 tấm ván dài 12 mét. Châu Đốc tân lộ ghi dấu ấn của Thoại Ngọc Hầu trong công cuộc mở mang và trấn yên bờ cõi vùng tân cương đất nước những ngày đầy hiểm nguy, gian khó; đến hôm nay vẫn mang những giá trị to lớn trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của miền biên giới Tây Nam Tổ quốc.
Ai là tác giả bia ký Châu Đốc tân lộ…?
Vào hạ tuần tháng 8/1828, Thoại Ngọc Hầu cho khắc dựng bia về sự kiện làm "Châu Đốc tân lộ kiều lương", dựng ở đầu đường phía núi Sam.
Tấm bia này, đến nay chỉ còn 2 mảnh vỡ đoạn đầu bia và trụ chân bia, do nhà nghiên cứu Phạm Văn Hầu cất công tìm kiếm, đào thám sát và khai quật vào năm 1961 và 1970 tại khu vực lăng Thoại Ngọc Hầu, hiện trưng bày tại nhà lưu niệm ở núi Sam. Trên một mảnh vỡ còn rõ 4 chữ Hán Châu Đốc tân lộ.

Mảnh vỡ bia và trụ đế bia Châu Đốc tân lộ kiều lương được trưng bày tại nhà lưu niệm Thoại Ngọc Hầu. Ảnh: N.T
Nội dung toàn văn chữ Hán không còn, chỉ có một đoạn được nhà nghiên cứu Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh dịch ra Quốc ngữ, dẫn trong bài Nguyễn Văn Thoại với sự đào Thoại Hà và kinh Vĩnh Tế đăng trên tạp chí Đại Việt số 28 ngày 1/12/1943, với tên bia do ông đặt là Vĩnh Tế sơn lộ kiều lương ký. Trước đó, chương 3 của cuốn Địa chí Châu Đốc in năm 1902 có lược dịch một đoạn bia này sang tiếng Pháp.
Còn nhà nghiên cứu Trần Hoàng Vũ cho biết, vào đầu tháng 8/2014, ông tìm thấy cuốn Inscription de la montagne de Vĩnh - Tế của Trần Văn Hanh, xuất bản tại Sài Gòn năm 1905, có in bản sao chữ Hán của 2 văn bia, mà qua so sánh, ông cho rằng có bia Châu Đốc tân lộ kỳ lương. Theo đó, bia này gồm 505 chữ, cuối bài không ghi ai là tác giả, kết thúc bằng dòng lạc khoản “Minh Mạng cửu niên, trọng thu nguyệt, hạ hoán”; vì vậy Trần Hoàng Vũ cho rằng, nhiều khả năng tác phẩm có giá trị lịch sử và văn học này là của chính Thoại Ngọc Hầu.
Về tên gọi Châu Đốc tân lộ kiều lương bi ký, trong khi nhà nghiên cứu Trần Hoàng Vũ dè dặt chỉ dám gọi là Châu Đốc tân lộ…, thì tác giả Lâm Thanh Quang cho rằng, trên cơ sở đầu mảnh bia vỡ tìm được đó, “trong quá trình khảo sát để phục dựng lại bia chúng tôi nhận rõ phần trên bên phải bia còn ghi rõ 4 chữ Châu Đốc tân lộ, 4 chữ này chiếm vị trí phân nửa bia nên chúng tôi xác định 4 chữ còn lại bên trái chính là kiều lương bi ký”.
Vì vậy, đến nay, nhiều người cho rằng tên đầy đủ của bia này là Châu Đốc tân lộ kiều lương bi ký và đoạn đường từ giáp đường Nguyễn Văn Thoại đến đường Châu Thị Tế, được đặt tên là Tân lộ Kỳ lương.
Án oan khi qua đời
Tháng Ba Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng phong Thoại Ngọc Hầu làm Án thủ đồn Châu Đốc, lĩnh ấn Bảo hộ Cao Miên, kiêm lý Biên vụ Hà Tiên; đồng thời ban lời dụ: “Châu Đốc là vùng đất xung yếu, ngươi nên khéo phủ dụ, mộ dân buôn lập làng mạc để hộ khẩu ngày một tăng, đồng ruộng ngày càng mở mang. Còn việc biên phòng cũng phải cẩn thận” (Đại Nam thực lục).
Theo nhà nghiên cứu Trần Hoàng Vũ, “khác hai lần trước, lần này Bảo hộ Thoại không trú đóng ở Nam Vang mà đặt doanh trại tại đồn Châu Đốc, trước để vua Cao Miên không cảm thấy bị người ta kiềm kẹp, sau là để dễ coi sóc việc mở mang vùng Châu Đốc và quản lý việc biên phòng trấn Hà Tiên”.
Từ đó, Nguyễn Văn Thoại đã làm tốt công vụ của mình, để lại những dấu ấn đậm nét ở miền biên viễn: Tiếp tục chỉ huy 2 đợt đào kinh Vĩnh Tế (1823 và 1824); chiêu dân lập ấp theo 3 tuyến dân cư dọc theo sông Hậu, tuyến lên Sóc Vinh (tức Srok Vang - Phnom Penh) và tuyến lên Lò Gò (tức Angkor Borei) của Cao Miên; các điểm dân cư quan trọng dọc kênh Vĩnh Tế, quanh chân núi Sam và chợ Châu Đốc;
đắp Châu Đốc tân lộ kiều lương; lo liệu sắp đặt việc ngoài biên như dẹp loạn Đê Đô Minh, giữ gìn hòa khí với Cao Miên, Xiêm La…
Với những cống hiến cho nhà Nguyễn, khi qua đời (1829), Nguyễn Văn Thoại được vua Minh Mạng truy tặng Tráng Võ tướng quân, Trụ quốc Đô thống, thụy là Võ Khác; ban tặng 100 quan tiền, 5 cây gấm Tống, 10 tấm lụa và 30 tấm vải để lo việc mai táng.
Thế nhưng, 3 năm sau, tháng Năm Nhâm Thìn (1832), năm Minh Mạng thứ 13, Võ Du đi do thám tình hình Cao Miên trở về tâu với Trấn thủ Gia Định thành các tội trạng của Bảo hộ Thoại. “Du về nói dò được việc Nguyễn Văn Thoại, khi lĩnh chức Bảo hộ, ngày thường bắt dân Phiên đi lấy gỗ táu đem nộp mà không cấp tiền và gạo, lại bắt dân Phiên làm việc tư, sửa đắp đường cái, để đưa đám chôn cất vợ” - Thực lục triều Nguyễn ghi.
Vì vậy, vua Minh Mạng “truy giáng Thoại xuống hàm Chánh ngũ phẩm và đoạt lại chức tập ấm của con trai hắn… Còn tang vật mà Thoại đã sách nhiễu dân Phiên thì phải truy ra rồi lấy gia sản kẻ phạm tội ấy mà truy cấp cho dân Phiên”.
Việc gán cho Bảo hộ Thoại “bắt dân Phiên đi lấy gỗ táu đem nộp mà không cấp tiền và gạo”, sau đó được vua Cao Miên là Nặc Chăn giải thích rõ: “Năm trước có việc đi lấy gỗ táu đem nộp thì dân Phiên đã lĩnh tiền và gạo của nhà nước cấp rồi. Vậy tha thiết xin đình chỉ việc cấp cho nữa”. Vua Minh Mạng nói với Bộ Lễ rằng “Võ Du vâng mệnh đi dò la, không xét đưa nguyên ủy đích xác, đột nhiên về báo rất là sai lầm, vậy trước hãy cách chức ngay, rồi giao cho bộ Hình bàn xử”. Sau đó, “bộ Hình nghị xử vào tội đồ, nhưng vua đặc cách cho cách chức, phát đi Cam Lộ gắng sức làm việc để chuộc tội”.
Riêng việc Thoại Ngọc Hầu “sai dân Phiên làm việc riêng, sửa mộ đắp đường”, vua Minh Mạng cho rằng “cũng là đáng tội, vậy cứ chuẩn y nguyên án”. Án oan “bắt dân Phiên đi lấy gỗ táu mà không cấp tiền gạo” thì rõ rồi. Nhưng Thoại Ngọc Hầu “sai dân Phiên làm việc riêng, sửa mộ đắp đường” thì có oan không?
Việc vài năm đã không tỏ, thì 200 năm sau dễ gì truy rõ. Nhưng cũng xin dẫn vài sử liệu để tường minh hơn. Đó là Nguyễn Văn Thoại có 2 người vợ: Chánh thất là Châu Thị Tế hiệu là Nhàn Tĩnh phu nhân, mất ngày rằm tháng Mười Bính Tuất (1826); còn Thứ thất Trương Thị Miệt mất trước đó 5 năm - ngày mồng 9 tháng 7 Tân Tỵ (1821). Việc “đắp đường” có thể ám chỉ xây dựng Châu Đốc tân lộ - bắt đầu từ ngày 12 tháng Chạp Bính Tuất 1826 - là 5 năm sau khi bà Thứ thất và 2 tháng sau khi bà Chánh thất qua đời.
Phải chăng Nguyễn Văn Thoại cho làm đường để cải táng mộ vợ về núi Sam hay tiện việc chăm sóc, sửa sang sơn lăng tại đây, thật khó tỏ tường! Nên, có thể thấy rằng, gán chuyện đắp đường từ đồn Châu Đốc đến núi Sam để “đưa đám chôn cất vợ” hay “sửa đường đắp mộ”, là việc tư chen lẫn việc công, cũng rất mập mờ. Nhưng, có một điều khó chối cãi, rằng con đường này có giá trị rất lớn khi kết nối đồn Châu Đốc với khu dân cư mới quanh núi Sam, bảo đảm thuận lợi cho việc cai quản vùng tân cương và chiêu dân lập làng, phát triển kinh tế… mà vua Minh Mạng đã giao phó cho Thoại Ngọc Hầu từ trước đó.
Việc xét công luận tội đôi khi gắn với quan hệ phức tạp trong chốn quan trường và ngoài xã hội, nhiều lúc khó công minh, tỏ tường. Chỉ thấy rằng, với những cống hiến của mình, sau gần 200 năm qua đời, Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại - người con đất An Hải (Đà Nẵng) luôn sống trong lòng dân với tiếng thơm lưu mãi…
(1) Dẫn theo Thoại Ngọc Hầu qua những tài liệu mới - Trần Hoàng Vũ (NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2018).
(2) Di sản của Thoại Ngọc Hầu đối với vùng đất An Giang qua các văn bia Thoại Sơn, Vĩnh Tế Sơn và Châu Đốc tân lộ kiều lương - Lâm Thanh Quang
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dau-an-thoai-ngoc-hau-o-mien-tan-cuong-3337838.html











