Dạy AI từ tiểu học không có nghĩa là bắt trẻ lập trình, dùng ChatGPT
Các nhà giáo dục, chuyên gia công nghệ cho rằng dạy AI từ tiểu học cần đặt trọng tâm vào việc giúp học sinh làm quen tư duy công nghệ và tiếp cận công cụ ở mức phù hợp lứa tuổi.

Học sinh tại trường Wellspring Hanoi đã được phổ cập AI từ lớp 1. Ảnh: NTCC.
Bộ GD&ĐT dự kiến thí điểm tích hợp nội dung về trí tuệ nhân tạo (AI) vào chương trình giáo dục phổ thông từ tháng 12/2025 đến tháng 5/2026 ở một số trường được chọn. Sau đó, bộ sẽ tổng kết, đánh giá kết quả và hoàn thiện khung nội dung để triển khai rộng rãi trong các năm học tiếp theo.
Dù mới chuẩn bị thí điểm, song chia sẻ tại một hội thảo hồi tháng 10, GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ GD&ĐT) nhìn nhận thực tế hiện nay, các nhà trường đã triển khai dạy và học AI rất sôi động.
Theo báo cáo của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, khảo sát năm 2023 với hơn 11.000 học sinh THCS, cho thấy 87% học sinh THCS đã biết đến trí tuệ nhân tạo, trong đó 86% đánh giá AI mang lại lợi ích cho việc học. Ví dụ, học sinh dùng ChatGPT để trả lời được các câu hỏi khó.
Đối với giáo viên, khảo sát năm 2024 với gần 35.000 giáo viên phổ thông tham gia cho thấy 76% giáo viên đã từng sử dụng AI trong dạy học, hơn 60% trong số đó là tự học, tự tìm hiểu để ứng dụng. Các giáo viên đều đánh giá hiệu quả cao trong ứng dụng AI vào giảng dạy.

Học sinh tại TP.HCM tham quan, trải nghiệm các sản phẩm liên quan công nghệ, AI tại triển lãm giáo dục. Ảnh: Khương Nguyễn.
Dạy AI từ phổ thông là đúng xu hướng
Trao đổi với Tri Thức - Znews về kế hoạch mới của Bộ GD&ĐT, ông Christian Nguyen, nhà sáng lập một công ty thiết kế game tại TP.HCM, đánh giá đây là một xu hướng tích cực và phù hợp với sự dịch chuyển mạnh mẽ của thế giới.
Theo ông, việc đưa AI vào trường học nên được hiểu như việc các thế hệ trước đã tiếp cận Google hay Internet trong quá trình học tập. Việc này đang phản ánh đúng xu hướng chung của giáo dục toàn cầu.
Trước những băn khoăn cho rằng trẻ tiểu học, đặc biệt trẻ lớp 1, chưa đủ nhận thức để tiếp cận với AI, ông Christian cho rằng vấn đề không nằm ở việc trẻ có đủ hiểu biết hay không mà ở cách thiết kế chương trình và công cụ phù hợp.
Ông ví việc phổ cập AI giống như cách trẻ từng được làm quen với máy tính, điện thoại hay mạng xã hội. Mỗi độ tuổi có mức độ tiếp nhận khác nhau và sản phẩm công nghệ cần được tùy chỉnh để phù hợp với năng lực của từng nhóm.
Qua đó, chương trình dạy AI dành cho trẻ nhỏ phải được tinh chỉnh, có lớp lọc thông tin phù hợp với nhận thức của các em. Điều quan trọng là không làm mất khả năng tư duy độc lập và không khiến các em phụ thuộc vào AI.
Đánh giá mức độ khả thi của việc triển khai đại trà, ông cho rằng sự khác biệt về cơ sở vật chất sẽ tạo ra khoảng cách giữa các khu vực. Theo đó, cơ sở giáo dục ở đô thị có hạ tầng Internet tốt, khả năng đầu tư thiết bị cao, sẽ tiếp cận nhanh hơn so với trường học ở vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, theo ông, ngành giáo dục cần thí điểm tại các trường có điều kiện phù hợp trước khi nhân rộng toàn quốc.
Làm gì để triển khai AI vào trong trường học?
Dù diễn ra sôi động, ông Vinh đánh giá công nghệ vẫn chưa giải quyết được các vấn đề lõi của giáo dục, chỉ giải quyết được vấn đề của công nghệ.
Ông chỉ ra thực tế hiện nay, nhờ sự hỗ trợ của AI, giáo viên có thể soạn bài rất nhanh, chỉ vài phút sẽ xong một bài giảng hay hoặc có một slide đẹp. Học sinh khi nhận bài tập cũng chỉ cần dùng AI, vài phút có thể giải quyết hết.
“Như vậy, giáo viên dùng AI để dạy, học sinh dùng AI để học, cuối cùng chẳng ai dạy cũng chẳng ai học, chỉ có máy học và ngày càng thông minh hơn mà thôi”, GS.TS Lê Anh Vinh nói.

Học sinh trường Nguyễn Siêu (Hà Nội) trải nghiệm AI và chip bán dẫn trong ngày hội STEAM. Ảnh: NTCC.
Từ thực tế này, GS.TS Lê Anh Vinh cho rằng việc đưa AI vào giáo dục phổ thông cần dựa trên 3 trụ cột chính.
Trước hết, cần có khung chính sách nhất quán để đưa AI vào nhà trường. Thứ hai là chương trình dạy, tài liệu phải toàn diện và linh hoạt. Thứ ba là nguồn lực con người và tài chính.
Để triển khai vào chương trình THPT, GS Vinh cho biết hiện có 3 hướng. Thứ nhất, tích hợp AI vào hoàn toàn vào các môn học. Thứ hai, xem AI như một phần của môn Tin học. Thứ 3, để AI như một môn học độc lập.
“Quan điểm của chúng tôi là vừa phải đưa tích hợp vào ứng dụng trong các môn học, vừa phải có phần dạy độc lập để cung cấp những nội dung đặc thù về AI cho học sinh. Cách tiếp cận phải theo từng bước rõ ràng, có đánh giá nghiên cứu”, ông nói.
Chẳng hạn, ở bậc tiểu học là cấp độ làm quen, vui chơi cùng công nghệ với mục tiêu giúp học sinh hiểu AI là gì, những ảnh hưởng đơn giản của AI. Ở bậc THCS là cấp độ nền tảng, giúp học sinh rèn tư duy, kỹ năng với mục tiêu phát triển năng lực nền tảng, ứng dụng và bước đầu phân tích những tác động tới xã hội của AI.
Ở bậc THPT là cấp độ kiến tạo, nhằm giúp học sinh tự tin sử dụng AI, hiểu một số nguyên lý cơ bản và thiết kế, điều chỉnh công cụ AI đơn giản…
Trong khi đó, khi quan sát các quốc gia đã đưa AI vào giáo dục, ông Christian cho rằng Việt Nam có thể rút ra nhiều bài học quan trọng từ các nước đã thực hiện như Trung Quốc, Hàn Quốc, đặc biệt trong khâu triển khai và cách tiếp cận từ phía quản lý.
Bài học đầu tiên là tính chọn lọc. Thay vì áp dụng đồng thời cho tất cả lứa tuổi và tất cả trường học, nhiều quốc gia đã triển khai theo từng giai đoạn, từng khu vực với chương trình huấn luyện khác nhau cho từng nhóm học sinh. Theo ông, điều này giúp hệ thống tránh tình trạng giáo viên quá tải, học sinh bị “nhồi nhét”, hoặc trường học không đủ hạ tầng.
Một yếu tố quan trọng khác là năng lực của đội ngũ triển khai. Những người xây dựng hoặc quản lý chương trình phải là người hiểu rõ công nghệ, từng sử dụng và có khả năng làm chủ nó. Qua đó, những người triển khai cần xem AI như công cụ, không phải thứ để phụ thuộc. Đặc biệt, năng lực của đội ngũ này quyết định chất lượng tài liệu giảng dạy, cách tổ chức lớp học và khả năng đánh giá hiệu quả.
Bài học thứ ba liên quan đến truyền thông và thay đổi nhận thức của phụ huynh. Nhiều quốc gia chú trọng công tác phổ biến kiến thức trước khi đưa AI vào trường học nhằm giúp phụ huynh hiểu rằng AI không phải yếu tố bắt buộc hay mối đe dọa, mà là lựa chọn bổ sung để phát triển kỹ năng của trẻ. Điều này tạo ra sự đồng thuận xã hội - yếu tố quan trọng khi triển khai các chương trình giáo dục mới.
Ông Christian nhận định nếu được truyền thông tốt, phụ huynh sẽ có cái nhìn cởi mở hơn, thay vì lo ngại con trẻ bị công nghệ kiểm soát. Thông qua đó, học sinh cũng có thể tiếp cận AI ở trạng thái “được hướng dẫn” thay vì “được thả tự do”.












