Điều gì xảy ra khi cha mẹ trở chủ nhân của những đứa trẻ?
Từ nay trở đi, một cái liếc mắt, một lời nói, một cử chỉ đe dọa duy nhất cũng đủ để kiểm soát đứa trẻ.

Tác giả: Alice Miller/Bách Việt Books-NXB Lao Động
Thương cho roi cho vọt
Liệu những phương pháp dạy dỗ tưởng chừng “vì lợi ích của trẻ” có thực sự mang lại điều tốt đẹp, hay lại vô tình gây tổn thương lâu dài? Trong cuốn sách này, tác giả chỉ ra nhiều hình thức kỷ luật nghiêm khắc, áp đặt hay kiểm soát cảm xúc từ cha mẹ và người lớn có thể để lại dấu ấn tiêu cực trong tâm lý trẻ nhỏ.
Điều gì xảy ra khi cha mẹ trở chủ nhân của những đứa trẻ?
Từ nay trở đi, một cái liếc mắt, một lời nói, một cử chỉ đe dọa duy nhất cũng đủ để kiểm soát đứa trẻ.
Vào giữa thế kỷ XIX, một người đàn ông tên là Schreber, cha của một bệnh nhân hoang tưởng được Freud mô tả, đã viết một loạt các cuốn sách về cách nuôi dạy con cái. Chúng phổ biến đến mức một vài cuốn được in tới 40 lần và dịch ra nhiều thứ tiếng.
Trong các tác phẩm này, ông nhấn mạnh lặp đi lặp lại rằng trẻ em nên được huấn luyện càng sớm càng tốt, thậm chí ngay từ tháng thứ năm của cuộc đời, nếu muốn "giữ cho mảnh đất không mọc cỏ dại gây hại". Tôi từng bắt gặp những quan điểm tương tự trong thư từ và nhật ký của các bậc cha mẹ - những tài liệu này cho người ngoài một manh mối rõ ràng về nguyên nhân sâu xa của các căn bệnh nghiêm trọng đã nảy sinh ở con họ, những người sau này, trở thành bệnh nhân của tôi.
Thế nhưng, ban đầu, các bệnh nhân của tôi không thể nhận ra được bao nhiêu giá trị từ những cuốn nhật ký này và họ buộc phải trải qua những quá trình phân tích tâm lý lâu dài và sâu sắc trước khi có thể dần nhìn thấy sự thật ẩn trong đó. Trước hết, họ phải tách mình khỏi sự ràng buộc với cha mẹ và hình thành cá tính riêng của chính mình.
Niềm tin cha mẹ luôn đúng và mọi hành vi tàn nhẫn - dù có ý thức hay vô thức - đều là biểu hiện của tình yêu thương, đã ăn sâu vào tiềm thức con người. Niềm tin này bắt nguồn từ quá trình "nội tâm hóa" xảy ra ngay trong những tháng đầu đời - tức là trong khoảng thời gian trước khi đứa trẻ tách khỏi người chăm sóc chính.

Trong vô thức cha mẹ biến mình thành chủ nhân của con. Ảnh: Law Offices.
2 đoạn trích dưới đây từ lời khuyên của Tiến sĩ Schreber viết năm 1858 sẽ minh họa phương pháp nuôi dạy trẻ phổ biến thời bấy giờ:
Những biểu hiện cáu giận của trẻ, thể hiện qua việc la hét hoặc khóc lóc vô cớ, nên được coi là phép thử đầu tiên đối với nguyên tắc tinh thần và giáo dục của bạn... Khi bạn đã xác định chắc chắn không có điều gì thực sự bất ổn - rằng đứa trẻ không ốm đau, buồn bã hay đau đớn - thì bạn có thể yên tâm tiếng la hét chỉ là một sự bộc phát cáu giận, một ý thích thoáng qua, là dấu hiệu đầu tiên của sự ương bướng.
Lúc này, bạn không nên đơn giản chờ đợi nó tự hết như lúc ban đầu, mà phải áp dụng cách tiếp cận kiên quyết hơn: Nhanh chóng đánh lạc hướng sự chú ý của trẻ bằng lời nói nghiêm khắc, cử chỉ đe dọa, gõ vào giường... hoặc nếu tất cả điều đó đều không hiệu quả, hãy sử dụng những biện pháp răn đe thể xác nhẹ nhàng, lặp đi lặp lại trong những khoảng thời gian ngắn cho đến khi trẻ im lặng hoặc ngủ thiếp đi...
Chỉ cần thực hiện phương pháp này một hoặc nhiều nhất là hai lần, và khi đó bạn sẽ là chủ nhân của đứa trẻ mãi mãi. Từ nay trở đi, một cái liếc mắt, một lời nói, một cử chỉ đe dọa duy nhất cũng đủ để kiểm soát đứa trẻ. Hãy nhớ điều này sẽ mang lại lợi ích lớn nhất cho con bạn vì nó sẽ giúp trẻ giảm bớt nhiều giờ lo lắng có hại đến sự trưởng thành của trẻ sau này, giải phóng trẻ khỏi tất cả dằn vặt nội tâm, thứ có thể gia tăng các đặc điểm tính cách nguy hiểm mà ngày càng khó chế ngự. [Trích trong Morton Schatzman, Soul Murder]
Tiến sĩ Schreber không nhận ra thực tế những gì ông đang cố gắng kiềm chế ở trẻ chính là những xung động của bản thân mình, và ông luôn đinh ninh mình đang khuyến khích việc sử dụng quyền lực hoàn toàn vì lợi ích của chính đứa trẻ:
Nếu cha mẹ kiên định trong việc này, họ sẽ sớm được đền đáp bằng sự xuất hiện của trạng thái lý tưởng, trong đó đứa trẻ sẽ gần như hoàn toàn được kiểm soát chỉ bằng một ánh nhìn từ cha mẹ.
Những đứa trẻ được nuôi dạy theo cách này thường không để ý khi ai đó đang lợi dụng mình, ngay cả khi chúng đã lớn, miễn là người đó sử dụng giọng điệu "thân thiện".
Tôi thường được hỏi tại sao tôi hầu như chỉ nhắc đến những người mẹ nhưng lại ít khi nhắc đến những người cha trong cuốn Bi kịch của đứa trẻ tài năng. Tôi tạm gọi người chăm sóc quan trọng nhất trong năm đầu đời của đứa trẻ là "người mẹ". Người này không nhất thiết phải là mẹ ruột hay thậm chí là phụ nữ.
Trong cuốn Bi kịch của đứa trẻ tài năng, tôi đã cố gắng chỉ ra rằng những ánh nhìn thể hiện sự không đồng tình và từ chối hướng vào đứa trẻ có thể góp phần phát triển những rối loạn nghiêm trọng, bao gồm biến thái và rối loạn thần kinh cưỡng chế (compulsion neuroses) ở tuổi trưởng thành.
Trong gia đình Schreber thì người "kiểm soát" 2 cậu con trai nhỏ bằng "những ánh nhìn" không phải người mẹ mà chính là người cha. (Cả hai người con trai sau này đều mắc bệnh tâm thần kèm theo ảo giác bị ngược đãi.) Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, ngày càng có nhiều người cha đảm nhận những chức năng tích cực của người mẹ và có thể mang đến cho con mình sự dịu dàng, ấm áp cũng như đồng cảm với những nhu cầu của con.
Ngược lại với thời kỳ gia đình phụ hệ, chúng ta đang trong giai đoạn thử nghiệm lành mạnh với các vai trò giới tính, và trong trường hợp này, tôi gặp khó khăn khi nói về "các vai trò xã hội" của người cha hoặc người mẹ mà không viện đến những phạm trù quy chuẩn lỗi thời. Tôi chỉ có thể nói rằng mọi đứa trẻ đều cần một người chăm sóc có thể đồng cảm chứ không phải là "kiểm soát" (dù là cha hay mẹ).











