Dưới tán rừng Trường Sơn - Bài 1: Những năm tháng không quên
Giữa đại ngàn Trường Sơn, đường 16 hôm nay thênh thang, xanh màu cây lá. Ít ai biết rằng dưới những tầng đất đỏ bình yên ấy biết bao tuổi xuân đã nằm lại. Mỗi khúc cua, mỗi điểm giao nhau của các tuyến đường miền Tây Quảng Trị dường như vẫn còn vang vọng dấu chân các chiến sĩ bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến cùng tiếng xe ra trận trong cuộc trường chinh kháng chiến chống Mĩ của dân tộc.
Bài 1: Những năm tháng không quên
Giữa đại ngàn Trường Sơn hôm nay, xe cộ ngược xuôi trên đường 16, những bản làng bà con Bru-Vân Kiều đang từng ngày đổi thay. Nhưng dưới lớp nhựa phẳng lì ấy vẫn lắng sâu ký ức về một “tọa độ lửa” khốc liệt bậc nhất trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Nơi đây in dấu từng đoàn quân xuyên rừng mở lối và biết bao con người đã đi qua Trường Sơn bằng máu, tuổi trẻ cùng khát vọng thống nhất đất nước. Theo dòng ký ức của những nhân chứng năm xưa, hành trình trở lại đường 16-Làng Ho không chỉ là chuyến trở về với lịch sử mà còn là cuộc gặp gỡ với một phần thiêng liêng của dân tộc giữa đại ngàn bất tử.
Ký ức giữa đại ngàn
Đường 16 lịch sử sinh ra để nối hai miền Bắc Nam và giờ đây, sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình lại trở thành một phần ký ức không thể nào quên. Tôi đi trên tuyến đường này vào chiều đầu mùa hạ. Trời xã Kim Ngân âm u sau cơn mưa rừng. Xe vừa qua Thạch Bàn thì sương núi đã phủ trắng các triền đồi. Những dãy núi nối nhau hun hút phía trước. Rừng già lặng im. Thỉnh thoảng một con suối hiện ra dưới vực sâu rồi lại khuất vào trảng rừng xanh ngút.

Làng Ho - Ảnh: M.T
Con đường hôm nay đã hoàn toàn thay đổi với những năm chiến tranh. Tất cả đã được bê tông hóa và trải nhựa. Xe cộ lưu thông chở sắn, keo tràm, lâm sản xuôi ngược. Trong các bản người Bru-Vân Kiều điện sáng trưng. Cuộc sống đang từng ngày đầy đặn dưới những tán rừng Trường Sơn.
Với già làng Hồ Tình, bản Bạch Đàn và những người lớn tuổi, họ càng cảm nhận sâu hơn những tháng năm chiến tranh đỏ lửa. Khó ai tưởng tượng, hơn nửa thế kỷ trước, giữa núi rừng mênh mông ấy, bom đạn từng cày xới ngày đêm. Và cũng trên tuyến đường ấy, hàng vạn con người đã âm thầm đi qua chiến tranh bằng đôi chân, bằng máu và bằng lòng yêu nước lớn hơn cả mạng sống.
Ngày 19/5/1959, tuyến đường từ ngã tư Thạch Bàn vào Khe Hó chính thức được khởi công, mở đầu cho một phần huyền thoại của đường Trường Sơn. Khoảng 1.000 cán bộ, chiến sĩ, dân công của Đoàn 559 cùng lực lượng địa phương đã xuyên rừng mở lối giữa núi rừng hoang vu. Chỉ hơn một tháng sau, chuyến hàng quân sự đầu tiên đã vượt Trường Sơn vào chiến trường Trị-Thiên.
Từ một lối mòn heo hút giữa rừng sâu, đường 16 dần trở thành huyết mạch chiến lược nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam. Và cũng từ đó, nơi đây bước vào những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh. Có những mùa hè nóng rát, máy bay Mỹ đánh phá tuyến đường này hàng nghìn lượt. Bom dội xuống dày đặc đến mức có người nói rằng mặt đất chưa kịp lành thì chi chít vết thương. Núi đá rung chuyển. Rừng già bật gốc. Những dòng suối đỏ quạch màu đất bazan và máu.
Bom đánh ban ngày thì ban đêm lực lượng dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong lao mình ra sửa chữa, san lấp. Địch phá một, ta làm mười. Hàng nghìn thanh niên, bộ đội vận tải đã bám đường giữa mưa bom bão đạn để giữ cho mạch máu giao thông không bao giờ tắc.
Làng Ho tuyến lửa
Nếu ví đường Trường Sơn là mạch máu chiến lược từ Bắc vào Nam thì Làng Ho trở thành trái tim nằm sâu giữa đại ngàn. Từ cuối những năm 50 của thế kỷ trước, nơi đây được lựa chọn xây dựng thành khu hậu cứ đầu tiên của Đoàn 559 gồm sở chỉ huy, kho hàng, bệnh xá, trạm khách, trại sản xuất… Hàng hóa từ miền Bắc được tập kết về đây rồi tiếp tục theo những tuyến đường rừng vượt Trường Sơn vào chiến trường Trị-Thiên và miền Nam. Có thời, người ta gọi Làng Ho là “dạ dày” của tuyến chi viện.
Từ năm 1959 đến những năm chống chiến tranh phá hoại ác liệt, hàng nghìn tấn hàng quân sự đã được tập kết qua khu vực này. Chỉ trong giai đoạn đầu mở tuyến, hơn 500 tấn hàng đã được vận chuyển vượt Trường Sơn vào chiến trường. Những đoàn dân công, bộ đội vận tải, thanh niên xung phong nối nhau đi suốt ngày đêm trên các cung đường Bang, Khe Hó, Làng Ho, Dốc Ả, đèo 1001…
Đứng giữa Làng Ho hôm nay, rất khó hình dung nơi đây từng là “tọa độ lửa”. Máy bay Mỹ ngày đêm đánh phá nhằm cắt đứt tuyến vận tải chiến lược. Chỉ riêng mùa khô 1970-1971, địch đã đánh phá đường 16 tới 1.114 lần bằng đủ loại bom phá, bom từ trường, bom bi và chất cháy. Có thời điểm, bình quân mỗi kilômét đường phải gánh hàng chục quả bom mỗi ngày.
Người dân vùng này kể rằng, có những đêm cả cánh rừng đỏ rực bởi pháo sáng và bom cháy. Máy bay gầm rú trên đầu. Đá từ vách núi lăn xuống như thác đổ. Nhưng dưới ánh đèn dầu nhỏ bé, lực lượng thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến vẫn lặng lẽ san lấp hố bom để sáng hôm sau xe tiếp tục vượt Trường Sơn. Có những đoạn đường vừa thông xe vài giờ lại bị bom cày nát. Nhưng rồi cũng chính trên mặt đường còn khét mùi thuốc súng ấy, những đoàn xe vận tải, những đoàn quân hành quân vẫn tiếp tục lặng lẽ đi về phía trước.
Những bàn chân mở đường
Để mở tuyến đường đầu tiên, tỉnh Quảng Trị và Quân khu 4 đã huy động khoảng 1.000 người gồm dân công cùng lực lượng của Sư đoàn 235. Họ bước vào Trường Sơn với những dụng cụ thô sơ nhất: Cuốc, xẻng, dao phát, đòn gánh và sức người. Có thể nói, vào thời điểm đó chỉ có rừng già hun hút và ý chí của con người.

Tác giả cùng giáo sư Nguyễn Anh Trí viếng thăm những liệt sĩ hy sinh năm 1970 - Ảnh: M.T
Sau hơn một tháng xuyên rừng bạt núi, tuyến đường đầu tiên từ Thạch Bàn vào Khe Hó đã hình thành. Những chuyến hàng quân sự đầu tiên nhanh chóng vượt Trường Sơn qua Bãi Hà, phía Tây Vĩnh Linh để vào chiến trường Trị-Thiên.Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu của một hành trình dài đầy máu và lửa. Khi chiến trường miền Nam ngày càng ác liệt, tuyến đường 16 tiếp tục được mở rộng và nâng cấp. Hàng nghìn dân công từ các huyện cũ như Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy lại nối nhau lên rừng mở đường, tải đạn, gùi gạo.
Chỉ tính riêng trong một đợt vận chuyển lên Hướng Lập, đã có tới 3.500 dân công gánh hơn 60 tấn hàng vượt Trường Sơn vào chiến trường. Những con số ấy hôm nay đọc lại vẫn khiến nhiều người người khó hình dung nổi sức mạnh của người Việt Nam trong kháng chiến lớn đến mức nào.
Có những đoạn như Dốc Ả, Dốc Em, một bên là vách núi dựng đứng, một bên vực sâu hun hút. Bộ đội và dân công phải treo mình trên vách đá để khoét núi mở đường. Có đoạn chỉ vừa đủ một người đi, phía dưới là mây trắng phủ kín vực sâu hàng trăm mét. Mùa nắng, mặt đá Trường Sơn nóng bỏng đến rát chân. Mùa mưa, bùn đất nhão quánh ngập quá đầu gối. Giữa đại ngàn, vắt rừng, sốt rét, đói lạnh và bom đạn luôn rình rập đe dọa các chiến sĩ. Nhưng trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, những đoàn người vẫn lặng lẽ hành quân. Họ đi suốt ngày, xuyên đêm, nối dài trên những con đường mòn, mang theo khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Có những người lính gùi hàng suốt mấy chục cây số giữa mưa rừng mà bữa ăn chỉ là nắm cơm độn sắn với muối rang. Nhiều nữ thanh niên xung phong tuổi mười tám đôi mươi vai trĩu nặng đạn dược nhưng vẫn hát vang giữa rừng già để động viên nhau vượt dốc. Những con đường Trường Sơn năm ấy được tạo nên bằng đôi vai trần sạm nắng, bằng những bàn tay rớm máu và cả tuổi thanh xuân của biết bao con người.
Vượt lên mọi gian khổ, họ đứng vững chính nhờ sức mạnh của niềm tin. Niềm tin, mỗi mét đường được mở ra sẽ rút ngắn khoảng cách đến ngày đất nước thống nhất. Và cũng chính từ những bước chân âm thầm, bền bỉ ấy, dân tộc Việt Nam đã làm nên một trong những kỳ tích vĩ đại nhất của thế kỷ XX.











