Gia tăng E&P góp phần củng cố 'tuyến phòng thủ' năng lượng quốc gia
Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu liên tục biến động bởi xung đột địa chính trị, áp lực đứt gãy chuỗi cung ứng và cạnh tranh nguồn cung ngày càng gay gắt, lĩnh vực thăm dò, khai thác (E&P) dầu khí tiếp tục khẳng định vai trò 'trụ đỡ' trong bảo đảm an ninh năng lượng của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam).

Những nỗ lực trong công tác E&P đã góp phần duy trì nguồn dầu thô ổn định cho các nhà máy lọc hóa dầu trong nước, không chỉ góp phần bảo đảm nguồn cung xăng dầu mà còn tạo dư địa ổn định kinh tế vĩ mô.
4 tháng đầu năm 2026, hoạt động E&P của Petrovietnam ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi sản lượng khai thác dầu thô toàn Tập đoàn tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước. Riêng quý I/2026, sản lượng khai thác dầu thô đạt 2,63 triệu tấn, tăng 10,4%, trong đó khai thác trong nước tăng tới 12%.
Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới chịu tác động mạnh từ căng thẳng tại Trung Đông, nguy cơ gián đoạn vận tải qua các tuyến hàng hải chiến lược và biến động giá năng lượng toàn cầu. Những nỗ lực trong công tác E&P đã góp phần duy trì nguồn dầu thô ổn định cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất, không chỉ góp phần bảo đảm nguồn cung xăng dầu mà còn tạo dư địa ổn định kinh tế vĩ mô.
Đà tăng trưởng của lĩnh vực E&P là kết quả từ nền tảng được Petrovietnam kiên trì tích lũy trong nhiều năm qua. Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi sản lượng khai thác dầu thô lần đầu tiên đảo chiều tăng trưởng 0,8%, chấm dứt chuỗi 11 năm sụt giảm liên tiếp. Cùng với đó, các công trình dầu khí duy trì hệ số vận hành khai thác (uptime) trên 99,6%, trong khi các nhà máy chế biến vận hành ở mức công suất kỷ lục, bình quân đạt 106-120%.
Đáng chú ý, hệ số bù trữ lượng trong nước đạt 1,09 lần, tiếp tục tạo dư địa phát triển lĩnh vực E&P trong các giai đoạn tiếp theo. Đây được xem là chỉ dấu quan trọng phản ánh khả năng duy trì nguồn tài nguyên khai thác, củng cố nền tảng tự chủ năng lượng trong dài hạn.
Trên nền tảng đó, Petrovietnam tiếp tục thúc đẩy đưa các mỏ mới vào khai thác sớm, đồng thời tối ưu sản lượng tại các mỏ hiện hữu thông qua ứng dụng khoa học công nghệ, tái cấu trúc khai thác và gia tăng hệ số thu hồi dầu. Chiến lược này không chỉ giúp duy trì sản lượng trước áp lực suy giảm tự nhiên của các mỏ trưởng thành, mà còn góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu, nâng cao năng lực tự chủ năng lượng quốc gia trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động khó lường.
Các đơn vị nòng cốt trong lĩnh vực E&P của Petrovietnam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) đạt tổng sản lượng khai thác 1,08 triệu tấn quy dầu trong quý I/2026, tăng 136% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, Liên doanh Vietsovpetro khai thác khoảng 770 nghìn tấn dầu/condensate, hơn 10 triệu m³ khí thiên nhiên và đưa vào bờ trên 210 triệu m³ khí phục vụ nhu cầu trong nước.
Song song với hoạt động khai thác, Petrovietnam tăng tốc triển khai các dự án mới nhằm mở rộng dư địa nguồn cung. Tháng 4/2026, Tập đoàn và các đối tác đã ký kết các văn kiện quan trọng cho Dự án phát triển mỏ Nam Du (Lô 46/07) và mỏ U Minh (Lô 51). Cùng thời điểm, PVEP-NCS và Vietsovpetro đạt dấu mốc tiến độ quan trọng tại Dự án phát triển mỏ Đại Hùng Nam; PV Drilling hoàn tất tái khởi động giàn khoan tự nâng đa năng PV DRILLING IX, sẵn sàng đưa vào vận hành thương mại.
Hiện nay, Petrovietnam và các đơn vị thành viên cũng đang triển khai nhiều giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và phát triển mới nhằm gia tăng trữ lượng, tạo nền tảng duy trì sản lượng ổn định trong nhiều năm tới.
Theo các chuyên gia năng lượng, trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu diễn biến khó lường do xung đột địa chính trị, cạnh tranh nguồn cung và nguy cơ đứt gãy chuỗi logistics quốc tế, công tác gia tăng trữ lượng và tối ưu khai thác có ý nghĩa then chốt đối với an ninh năng lượng quốc gia.

TS. Bùi Trọng Vinh: Nguồn dầu khai thác trong nước đang góp phần bảo đảm vận hành ổn định cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất, giúp tăng tính linh hoạt trong phối trộn dầu thô và giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ một khu vực địa chính trị cụ thể.
Trao đổi với PetroTimes, TS. Bùi Trọng Vinh - Viện trưởng Viện nghiên cứu năng lượng bền vững, nguyên Trưởng Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đánh giá, điều quan trọng không chỉ nằm ở con số sản lượng khai thác tăng thêm, mà ở khả năng duy trì nguồn cung nguyên liệu nội địa cho các nhà máy lọc hóa dầu và hệ thống điện khí trong nước. Khi giá dầu thế giới biến động mạnh hoặc chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguồn dầu khai thác trong nước đóng vai trò như “vùng đệm chiến lược”, giúp ổn định hoạt động sản xuất, hạn chế áp lực nhập khẩu và giảm tác động lan truyền tới nền kinh tế.
TS. Bùi Trọng Vinh cho rằng, hiệu quả lớn nhất của công tác gia tăng trữ lượng nằm ở việc kéo dài vòng đời các mỏ hiện hữu thông qua ứng dụng khoa học công nghệ và các giải pháp gia tăng hệ số thu hồi dầu. Nhiều mỏ dầu sau giai đoạn suy giảm sản lượng vẫn có thể tiếp tục đóng góp đáng kể nếu được tái cấu trúc mô hình khai thác và áp dụng công nghệ thu hồi dầu tiên tiến. Chỉ cần nâng hệ số thu hồi thêm vài phần trăm, lượng dầu bổ sung có thể tương đương với việc phát hiện thêm một mỏ mới, trong khi chi phí đầu tư thấp hơn rất nhiều so với thăm dò, khai thác tại các khu vực nước sâu, xa bờ hoặc địa chất phức tạp. Đây là cách mà Petrovietnam khai thác tài nguyên ngay trên các mỏ cũ bằng khoa học công nghệ.
“Trong bối cảnh hiện nay, ý nghĩa của gia tăng E&P vượt ra ngoài phạm vi của ngành. Nguồn dầu khai thác trong nước đang góp phần bảo đảm vận hành ổn định cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất, giúp tăng tính linh hoạt và giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ một khu vực địa chính trị cụ thể.
Đồng thời, nguồn khí tự nhiên do Petrovietnam khai thác cũng đóng vai trò quan trọng đối với hệ thống điện quốc gia và nhiều ngành công nghiệp nền tảng. Khi nhu cầu điện tiếp tục tăng cao gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, việc chủ động nguồn khí cho sản xuất điện và công nghiệp được xem là yếu tố cốt lõi để giữ ổn định chuỗi cung ứng năng lượng”, TS. Bùi Trọng Vinh phân tích.
Các chuyên gia đánh giá, trong bối cảnh thế giới bước vào thời kỳ cạnh tranh năng lượng ngày càng gay gắt, năng lực “tự chủ năng lượng” của một quốc gia không chỉ nằm ở quy mô dự trữ mà còn ở khả năng duy trì sản lượng khai thác nội địa, đa dạng hóa nguồn cung và làm chủ công nghệ E&P.











