Giấc mơ từ chân sóng
VHXQ - Vẫn còn đó những làng chài nép mình bên chân sóng, những bãi cát dài hun hút trong gió nồm, những buổi chợ đông khi bình minh chưa tỏ mặt người.

Những hoạt động du lịch tại các làng biển hấp dẫn du khách.
Trong ký ức của nhiều thế hệ, biển vừa là nguồn sống, vừa là nơi gửi gắm niềm tin, nỗi lo và cả những phận đời lênh đênh.
Nhưng ở một chiều kích khác, làng biển bây giờ lại rộn ràng du khách, khi có những người trẻ lựa chọn quay về, kể chuyện của làng.
Người kể chuyện làng
Một buổi sáng ở biển Tam Tiến (xã Tam Xuân), khi chợ cá vừa tan, Võ Hồng Rôn tất bật dọn lại khoảnh sân trước homestay của mình. Phía trước là biển. Sau lưng là làng. Mọi thứ ở đây đều giữ nguyên vẻ mộc mạc vốn có, với hàng dừa thấp, chiếc thúng chai úp bên cát, những mẻ lưới còn ám mùi biển khơi.
Ít ai nghĩ rằng chàng trai sinh năm 1992 ấy từng sống đời ngư dân đúng nghĩa. Sau những năm lênh đênh, Rôn quyết định bán tàu cá để lên bờ làm du lịch. Một lựa chọn từng khiến nhiều người trong làng hoài nghi. Nhưng chính Rôn lại nhìn thấy điều khác trong quê hương mình.
Anh nhận ra chợ cá Tam Tiến có giá trị đặc biệt. Đó là không gian văn hóa sống động của cư dân miền biển. Những phiên chợ lúc tinh mơ, tiếng mặc cả rộn ràng, cách ngư dân gỡ lưới, phân loại cá hay câu chuyện về mỗi chuyến biển đều là trải nghiệm mà du khách thành thị không dễ tìm thấy ở nơi khác.

Trải nghiệm ngắm bình minh và tham gia các hoạt động thể thao ở Tam Tiến do Võ Hồng Rôn tổ chức thu hút du khách. Ảnh: Xuân Hiền
Từ suy nghĩ ấy, Rôn bắt đầu dựng homestay bằng gu thẩm mỹ mộc mạc của người làng biển. Anh dọn sạch bãi biển, trồng thêm cây, mở các tour trải nghiệm để du khách cùng người dân ở làng chạm vào nghề biển, chèo SUP trên biển vào sớm mai và dẫn khách đi qua đời sống thường nhật của làng chài.
Điều đáng nói là sản phẩm mà Rôn tạo ra không dựa trên sự dàn dựng cầu kỳ. Thứ giữ chân du khách ở lại chính là vẻ nguyên sơ của làng biển.
Khách đến Tam Tiến cần tự mình thức dậy từ bốn giờ sáng, nếu muốn đi chợ cá, nghe tiếng sóng, ăn bữa sáng với đặc sản chợ biển và nhìn thấy một nhịp sống đang dần biến mất ở nhiều đô thị biển hiện đại.
Ở một góc biển khác của xứ Quảng, Võ Nguyên Tùng - Giám đốc HTX Làng nghề Cửa Khe (xã Thăng An), lại bắt đầu “kể chuyện làng” bằng nghề mắm nức tiếng Cửa Khe. Anh và những cộng sự trẻ chọn cách làm sống lại ký ức làng biển bằng việc phục hồi các giá trị cũ của làng, từ nghề làm nước mắm truyền thống, không gian làng chài, lễ hội cộng đồng và văn hóa ẩm thực miền biển.

Những hoạt động du lịch tại các làng biển hấp dẫn du khách.
Tùng cùng cộng sự bắt tay vào chỉnh trang đường làng, tạo không gian cho các hộ dân còn làm nghề mắm truyền thống đón khách tham quan, tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng và đưa đời sống thường nhật thành sản phẩm trải nghiệm. Từ những nỗ lực âm thầm ấy, Cửa Khe dần hiện diện trên bản đồ du lịch cộng đồng như một điểm đến của ký ức biển.
Vốn liếng bản địa
Vùng biển xứ Quảng từ lâu đã là không gian giao thoa văn hóa đặc sắc, nơi mỗi làng chài ven biển từ Điện Bàn, Hội An đến Tam Hải, Tam Quang… đều lưu giữ những lớp ký ức biển qua tục thờ cá Ông, lễ Cầu ngư, hát bả trạo, hay nghề đan lưới, đóng thuyền.
Trong khi đó, không gian ven biển Đà Nẵng hôm nay, từ Hội An, Cù Lao Chàm đến bán đảo Sơn Trà, vẫn tiếp nối một hệ sinh thái văn hóa biển giàu trầm tích và bản sắc riêng. Đó chính là “kho tài nguyên văn hóa sống” cần những người của làng đánh thức.
Hành trình trở về làng biển của người trẻ mang ý nghĩa như một cú hích mới, không chỉ là khai thác du lịch mà còn nhằm đánh thức ký ức địa phương, gìn giữ chiều sâu văn hóa cư dân ven biển và mở ra sinh kế mới từ vốn di sản bản địa.
Họ “đánh thức” ký ức địa phương bằng tư duy sáng tạo, kể lại câu chuyện làng chài qua những thước phim về đời sống ngư dân, trải nghiệm kéo lưới, làm nước mắm, chế biến món ăn biển hay các lễ hội truyền thống, để thấy chính cộng đồng cư dân mới là “linh hồn” của không gian văn hóa biển.

Những hoạt động du lịch tại các làng biển hấp dẫn du khách.
Chính từ những cách làm mới ấy cho thấy, phát triển du lịch biển không thể chỉ dừng ở khai thác cảnh quan hay xây dựng các khu nghỉ dưỡng ven biển. Nếu thiếu chiều sâu văn hóa, biển rất dễ trở thành một sản phẩm ngắn hạn, trùng lặp và khó tạo dấu ấn riêng.
Văn hóa biển vì thế cần được nhìn như một nguồn tài nguyên phát triển bền vững, không chỉ cho du lịch cộng đồng mà còn cho công nghiệp văn hóa và giáo dục di sản. Những câu chuyện làng chài, ký ức thương cảng, đời sống ngư dân hay nghề biển truyền thống hoàn toàn có thể trở thành chất liệu cho phim ảnh, nghệ thuật trình diễn, không gian trải nghiệm hay các hoạt động giáo dục về biển đảo dành cho thế hệ trẻ.
Điều quan trọng hơn là cần một chiến lược dài hơi, trong đó văn hóa được xem là nền tảng của phát triển. Từ hỗ trợ người trẻ khởi nghiệp bằng tài nguyên bản địa, phục dựng lễ hội biển, số hóa di sản đến kết nối du lịch - văn hóa - giáo dục, đó mới là cách để các làng biển giữ được bản sắc và tạo ra giá trị bền vững lâu dài.
Đó là một phần linh hồn của biển.
Và từ những chân sóng ấy, những giấc mơ mới đang bắt đầu - những giấc mơ về một không gian văn hóa biển đảo vừa gìn giữ ký ức truyền thống, vừa mở ra con đường phát triển bền vững.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/giac-mo-tu-chan-song-3339841.html











