Khơi thông dòng vốn cho tăng trưởng kinh tế cao
Để duy trì đà tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, các kênh dẫn vốn lớn, dài hạn cần được khơi thông, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng.

Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu vốn đầu tư cho toàn xã hội sẽ rất lớn. Ảnh: Hoàng Anh.
Áp lực dòng tiền từ sự mất cân đối về kỳ hạn
Hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm giữ vững ổn định vĩ mô là mục tiêu kép đang được Chính phủ đề ra đối với hệ thống tín dụng ngân hàng, nhằm đảm bảo tăng trưởng hai con số bền vững trong dài hạn. Tuy nhiên, khi nhìn vào thực tế vận hành của khu vực này thời gian vừa qua, việc hiện thực hóa đang gặp phải những thách thức không nhỏ.
Theo TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, có một thực tế kéo dài nhiều thập kỷ qua là động lực tăng trưởng kinh tế phụ thuộc rất lớn vào tốc độ mở rộng tín dụng. Song, trong những năm gần đây, dòng vốn tín dụng lại tập trung khá nhiều vào một số lĩnh vực nhất định.
Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến hệ thống ngân hàng hiện đang gặp khó khăn không nhỏ. Ngoài áp lực về chênh lệch giữa huy động và cho vay, hệ thống ngân hàng còn tồn tại hai vấn đề lớn là sự mất cân đối về kỳ hạn và cơ cấu tài sản của một số ngân hàng.
Ông Thành dẫn chứng, điều này thể hiện rất rõ trong năm 2025 khi tăng trưởng tín dụng bất động sản cao hơn rất nhiều so với tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Có những thời điểm tín dụng bất động sản tăng gần 20%, trong khi mức tăng chung thấp hơn đáng kể.
Hệ quả là các ngân hàng thương mại huy động vốn chủ yếu ở kỳ hạn ngắn, trong khi cho vay lại tập trung ở trung và dài hạn, đặc biệt là bất động sản. Sự chênh lệch này tạo áp lực lớn lên thanh khoản của hệ thống. Chính vì vậy, mặt bằng lãi suất luôn chịu áp lực ở mức cao.
Bên cạnh đó là câu chuyện lạm phát. Hiện nay, kỳ vọng lạm phát đã vượt mục tiêu đề ra. Nếu nhìn lại giai đoạn sau Covid-19, lạm phát có thời điểm lên tới khoảng 5 - 6%, cao hơn mục tiêu kiểm soát lạm phát bình quân.
Đáng chú ý, nếu nhìn vào lạm phát lõi tức là loại trừ các yếu tố biến động mạnh như giá năng lượng và thực phẩm thì con số này đã vượt mức 4%. Trong khi trước đây, mức lạm phát lõi chỉ ở mức khoảng 2,5%.
Do đó, hai bài toán lớn đang được đặt ra trong điều hành. Thứ nhất là kiểm soát cung tiền, bởi muốn kiểm soát lạm phát thì tốc độ tăng cung tiền phải giảm xuống ở mức phù hợp. Ví dụ, nếu mục tiêu tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 15% thì cần điều hành linh hoạt để giữ ổn định kỳ vọng lạm phát.
Thứ hai là bài toán thanh khoản. Muốn giảm lãi suất thì ngoài việc kiểm soát lạm phát, còn phải giải quyết vấn đề thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Đây là vấn đề mang tính đặc thù của Việt Nam, bởi lãi suất chịu tác động đồng thời từ cả kỳ vọng lạm phát và trạng thái thanh khoản của hệ thống.
Tại hội thảo “Nhận diện xu hướng tài chính bất động sản 2026”, ông Thành cho biết, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng khá nhiều công cụ điều hành như bơm hút tiền ngắn hạn trên thị trường mở, điều tiết tỷ giá và các nghiệp vụ liên quan đến ngoại hối. Có thể nói, cơ quan quản lý hiện có khá đầy đủ công cụ và thông tin để điều tiết lượng tiền trong lưu thông.
Tuy nhiên, vấn đề thanh khoản vẫn chưa được giải quyết triệt để. Có thời điểm chênh lệch giữa huy động và cho vay lên tới gần 2 triệu tỷ đồng. Đây là áp lực rất lớn đối với hệ thống ngân hàng.
Báo cáo của Chứng khoán SHS mới đây cho thấy, tình trạng căng thẳng diễn ra trong nửa cuối tháng 3/2026, khi chênh lệch giữa tín dụng và huy động tiếp tục nới rộng, lên tới âm hơn 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026. Tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của hệ thống ngân hàng tăng từ 110% cuối năm 2025 lên 111,9% vào cuối quý I/2026.
Việc mất cân đối kỳ hạn giữa dòng vốn huy động và cho vay đã dẫn đến đợt tăng lãi suất huy động trên toàn hệ thống
Cần tạo điều kiện để thu hút các dòng vốn lớn và dài hạn
Theo ông Thành, để xử lý vấn đề này, thời gian vừa qua, cơ quan quản lý đã điều chỉnh một số quy định về an toàn vốn và cơ cấu nguồn vốn, cho phép các ngân hàng linh hoạt hơn trong việc sử dụng nguồn vốn huy động nhằm giảm áp lực chênh lệch kỳ hạn. Những giải pháp này nhằm hỗ trợ thanh khoản và giảm bớt áp lực cho hệ thống tài chính ngân hàng.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã chủ động hạn chế tốc độ tăng tín dụng vào bất động sản, đồng thời điều chỉnh dòng vốn sang các lĩnh vực ưu tiên hơn về mặt chính sách. Chẳng hạn như nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp và các chương trình an sinh xã hội.
Về nguyên tắc điều hành, tốc độ tăng tín dụng bất động sản không nên vượt quá nhiều so với tốc độ tăng tín dụng chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, việc điều hành cũng phải rất linh hoạt và thận trọng.

Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành. Ảnh: BTC.
Ở góc độ phối hợp chính sách, Việt Nam có một thuận lợi là tình hình ngân sách nhà nước tương đối khả quan. Thu ngân sách thời gian qua đạt kết quả tốt, tạo dư địa để tăng đầu tư công.
Nguồn lực ngân sách có thể được tập trung cho giải phóng mặt bằng, phát triển hạ tầng và nhà ở xã hội. Đây là cách sử dụng chính sách tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh chính sách tiền tệ phải thận trọng hơn nhằm kiểm soát lạm phát.
Về giải pháp dài hạn, ông Thành cho rằng, nền kinh tế cần một nguồn vốn lớn và dài hạn cho tăng trưởng bền vững. Đây là vấn đề được đề cập nhiều nhưng làm chưa thật tốt.
Hiện nay, cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam còn mất cân đối khi quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và bảo hiểm vẫn chưa phát triển tương xứng. Đây mới là những nguồn vốn dài hạn quan trọng cho nền kinh tế.
Những năm tới, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, niêm yết trên thị trường chứng khoán và phục hồi thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp huy động vốn hiệu quả mà còn giảm gánh nặng cung ứng vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.
Xa hơn nữa, Việt Nam cần phát triển các định chế tài chính dài hạn và xây dựng các trung tâm tài chính có khả năng thu hút dòng vốn quốc tế. Đây không chỉ là câu chuyện về thị trường tài chính mà còn là vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
"Chúng ta cần tạo điều kiện để thu hút các dòng vốn lớn, các nhà đầu tư tổ chức và các nguồn vốn dài hạn. Khi đó, doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều kênh huy động vốn ngoài ngân hàng, còn thị trường tài chính sẽ phát triển cân bằng và bền vững hơn. Đó cũng là kỳ vọng đối với các cải cách trong thời gian tới, cả về điều hành chính sách lẫn phát triển thị trường tài chính theo chuẩn mực quốc tế", ông Thành nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Bộ Lĩnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược kinh tế cũng cho rằng, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao mà Việt Nam đang hướng tới trong những năm tới, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội sẽ rất lớn.
Hiện nay, hệ thống tài chính của Việt Nam vẫn phụ thuộc khá lớn vào tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Điều này khiến khả năng huy động vốn trung và dài hạn cho bất động sản còn nhiều hạn chế.
Nếu thị trường vốn phát triển mạnh hơn, đặc biệt là thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và minh bạch hơn, áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng sẽ giảm bớt.
Bên cạnh đó, theo ông Lĩnh, với nhu cầu lớn về nguồn vốn cho tăng trưởng, Việt Nam không thể chỉ dựa vào nguồn lực trong nước mà cần huy động hiệu quả các dòng vốn từ bên ngoài, trong đó có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Để thu hút được dòng vốn này, Chính phủ cần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hấp dẫn các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả của các kênh dẫn vốn và triển vọng phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/khoi-thong-dong-von-cho-tang-truong-kinh-te-cao-d46294.html











