Không thể trông vào nhân công giá rẻ, Việt Nam cần đổi mới chính sách FDI

Thay vì phụ thuộc vào lợi thế nhân công giá rẻ và ưu đãi thuế đang dần mất tác dụng, Việt Nam cần một cuộc cách mạng về chính sách để đón dòng vốn FDI 'thế hệ mới' – dòng vốn của công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và phát triển bền vững.

Đây là khẳng định của TS Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp (KCN) Việt Nam - VIPFA, nguyên Cục Trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch & Đầu tư, nay là Bộ Tài chính) về định hướng thu hút đầu tư trong bối cảnh mới.

Áp lực thay đổi từ thực tiễn

Nhìn lại hành trình hơn 30 năm đổi mới, không thể phủ nhận vai trò trụ cột của khu vực FDI đối với nền kinh tế. Với đóng góp trên 20% GDP, chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm trực tiếp cho hơn 5 triệu lao động, dòng vốn ngoại đã góp phần đưa quy mô nền kinh tế Việt Nam vươn lên vị trí thứ 33 thế giới theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB).

Tuy nhiên, theo Chủ tịch VIPFA, mô hình thu hút FDI truyền thống vốn dựa trên kiềng ba chân "lao động giá rẻ – ưu đãi thuế – lắp ráp gia công" đang dần bộc lộ những hạn chế.

TS Phan Hữu Thắng nhận định, bối cảnh kinh tế toàn cầu và khu vực đã có những thay đổi căn bản. Chi phí lao động tại Việt Nam đang tăng lên, làm xói mòn lợi thế cạnh tranh truyền thống. Trong khi đó, áp lực cạnh tranh từ các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia hay Ấn Độ ngày càng gay gắt. Quan trọng hơn, xu hướng đầu tư thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các tiêu chuẩn "xanh", công nghệ cao và chuỗi cung ứng thông minh.

TS Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp (KCN) Việt Nam - VIPFA.

TS Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp (KCN) Việt Nam - VIPFA.

"Thực tế cho thấy, dù dòng vốn vào nhiều nhưng doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn yếu, hiệu ứng lan tỏa về công nghệ từ khối ngoại sang khối nội chưa đạt kỳ vọng. Nếu tiếp tục duy trì tư duy cũ, Việt Nam không chỉ lỡ nhịp với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mà còn đối mặt với nguy cơ tụt hậu. Do đó, việc chuyển hướng sang thu hút FDI "thế hệ mới" không còn là lựa chọn mà là yêu cầu cấp thiết", ông Thắng nhấn mạnh.

FDI "thế hệ mới" không đơn thuần là những dự án có vốn lớn hay xây dựng những nhà máy sộ sộ để gia công xuất khẩu. Theo TS Phan Hữu Thắng, sau gần 40 năm thu hút đầu tư, mục tiêu của Việt Nam hiện nay phải là xây dựng một nền công nghiệp tự chủ. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua việc liên kết chặt chẽ với các nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực R&D (nghiên cứu và phát triển), công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao và công nghệ xanh.

Chiến lược mới đòi hỏi sự ưu tiên tuyệt đối cho các dự án có hàm lượng công nghệ cao, thân thiện với môi trường và đặc biệt là cam kết chuyển giao công nghệ, tăng giá trị nội tại cho nền kinh tế. Thay vì phụ thuộc vào gia công, dòng vốn mới phải đóng vai trò đòn bẩy để nâng cao năng lực sản xuất quốc gia.

Để hiện thực hóa điều này, hệ thống các KCN – "tổ kén" của các dòng vốn đầu tư – cần phải tiên phong thay đổi. Các KCN mới cần được định hướng phát triển theo mô hình KCN xanh, KCN sinh thái hoặc KCN công nghệ cao. Đây sẽ là bộ lọc tự nhiên để đón những "đại bàng" thực sự mang theo công nghệ và quy trình quản trị tiên tiến, thay vì những dự án thâm dụng lao động và tài nguyên.

Đổi mới tư duy quản lý và chính sách hỗ trợ

Để "dọn tổ" đón dòng vốn chất lượng cao giai đoạn 2025–2035, người đứng đầu VIPFA cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận từ cấp Chính phủ đến địa phương. Tư duy cạnh tranh giữa các địa phương bằng cách "đua đáy" về giảm thuế hay hạ giá thuê đất đã lỗi thời. Thay vào đó, các địa phương trong cùng một khu vực kinh tế nên liên kết để xây dựng những "gói hỗ trợ toàn diện". Gói này bao gồm sự thuận lợi tối đa về thủ tục hành chính, đất đai, hạ tầng đồng bộ và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp chuyên nghiệp.

Khu tổ hợp CNCTech Thăng Long Complex tại KCN Thăng Long 3, xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ.

Khu tổ hợp CNCTech Thăng Long Complex tại KCN Thăng Long 3, xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ.

Đồng thời, tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư cũng cần được viết lại. Không chỉ nhìn vào số vốn đăng ký hay số lượng việc làm phổ thông, thước đo hiệu quả dự án FDI cần dựa trên giá trị gia tăng tạo ra, mức độ lan tỏa công nghệ, khả năng kết nối chuỗi cung ứng và tác động đến môi trường.

Một điểm nghẽn lớn cần tháo gỡ là sự yếu kém của công nghiệp hỗ trợ trong nước. Chính phủ cần triển khai quyết liệt "Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng cho FDI" với các giải pháp cụ thể về tài chính và đào tạo nhân lực. Chỉ khi doanh nghiệp nội đủ năng lực bắt tay với doanh nghiệp ngoại, nền kinh tế mới có thể phát triển bền vững và gia tăng nội lực.

Để tận dụng cơ hội từ sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, TS Phan Hữu Thắng đề xuất một lộ trình hành động cụ thể và đồng bộ.

Đối với Chính phủ, cần sớm ban hành Chiến lược thu hút FDI thế hệ mới giai đoạn 2025–2035, đi kèm với Bộ tiêu chí quốc gia để sàng lọc dự án. Đặc biệt, cần có cơ chế ưu đãi đặc biệt dành cho các lĩnh vực chiến lược như bán dẫn và công nghệ cao.

Đối với các bộ ngành như Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện khung pháp lý cho mô hình KCN xanh, KCN sinh thái và xác định mức ưu đãi thuế cụ thể cho hoạt động đổi mới sáng tạo, R&D. Bên cạnh đó, việc thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia về FDI theo thời gian thực sẽ giúp công tác quản lý và xúc tiến đầu tư hiệu quả hơn.

Về phía các địa phương, cần thành lập các tổ công tác xúc tiến đầu tư chuyên biệt, tập trung tạo quỹ đất sạch và hạ tầng đồng bộ. Quan trọng hơn cả là việc chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao – yếu tố then chốt để giữ chân các nhà đầu tư công nghệ...

Nguyệt Minh

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/doanh-nghiep/khong-the-trong-vao-nhan-cong-gia-re-viet-nam-can-doi-moi-chinh-sach-fdi/20251129111927044