Liên kết chuỗi toàn diện để phát triển cây ăn quả xuất khẩu

Cây ăn quả hiện đang là một trong những ngành hàng nông nghiệp trọng điểm của thành phố Cần Thơ, đóng vai trò chủ lực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và nâng cao thu nhập cho người dân.

Với quy mô trên 100.000 ha, địa phương đã hình thành các vùng sản xuất tập trung, cấp 657 mã số vùng trồng và 45 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sang nhiều thị trường quốc tế lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành hàng này đang đối mặt với hàng loạt rào cản kỹ thuật khắt khe, đòi hỏi một chiến lược liên kết chuỗi toàn diện và đồng bộ.

Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở NN&MT TP.Cần Thơ thông tin về định hướng phát triển vùng sản xuất cây ăn quả trên địa bàn TP.Cần Thơ đáp ứng thị trường xuất khẩu. Ảnh: Thu Hiền – TTXVN

Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở NN&MT TP.Cần Thơ thông tin về định hướng phát triển vùng sản xuất cây ăn quả trên địa bàn TP.Cần Thơ đáp ứng thị trường xuất khẩu. Ảnh: Thu Hiền – TTXVN

*Rào cản phát triển

Mặc dù, chất lượng trái cây miền Tây, đặc biệt là sầu riêng, hoàn toàn đủ sức cạnh tranh với các nước trong khu vực và được thị trường thế giới công nhận, song nông sản miền Tây vẫn vướng vào nghịch lý "càng chính vụ càng phải giải cứu". Theo bà Nguyễn Hồng Trâm Tuyên, Phó Giám đốc Công ty Diễm Phúc, nguyên nhân cốt lõi không chỉ nằm ở quy luật cung – cầu, mà xuất phát từ việc nông sản chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật xuất khẩu.

Hiện nay, bên cạnh tình trạng thiếu năng lực bao tiêu toàn bộ sản lượng từ các mã vùng trồng và cơ sở đóng gói, sầu riêng miền Tây đang bị nghẽn bởi lỗi nhiễm vàng O và Cadimi. Bà Nguyễn Hồng Trâm Tuyên chia sẻ, tình trạng này đang đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của vùng kinh tế cây ăn trái.

Phân tích về nguyên nhân, ông Trần Hữu Phúc, Giảng viên Khoa khoa học cây trồng, Trường Nông nghiệp (Đại học Cần Thơ) cho biết, hàm lượng Cadimi tự nhiên trong đất rất ít và không đủ để gây tồn dư trong trái cây. Phần lớn chất độc hại này được đưa vào đất từ các dòng phân bón có chứa kim loại nặng thô trong quá trình canh tác lâu năm, sau đó thẩm thấu sâu và hấp thu ngược lên cây, trái. Đáng chú ý, các nhóm phân lân thô, phân hữu cơ sản xuất từ nguồn nguyên liệu kém chất lượng (như rác thải, bùn lắng nước thải khu công nghiệp) và các loại phân bón trôi nổi trên mạng xã hội là những nguồn phát thải Cadimi chủ yếu. Việc nông dân lạm dụng phân lân để hạ phèn hoặc tạo mầm qua nhiều năm đã khiến độc chất tích lũy nghiêm trọng trong đất, trở thành bài toán không thể giải quyết trong một sớm một chiều.

Thực trạng nông sản nhiễm chất cấm phản ánh sự đứt gãy rõ rệt trong chuỗi liên kết sản xuất. Phần lớn người nông dân vẫn sản xuất nhỏ lẻ, nằm ngoài vùng trồng, duy trì tập quán canh tác cũ và lạm dụng hóa chất. Theo đánh giá của Đại học Cần Thơ, những nhà vườn lạm dụng thuốc diệt cỏ từ 2-4 lần/năm và duy trì suốt 3 năm sẽ đối mặt với tỷ lệ cây chết lên tới 70-80%. Ngược lại, các doanh nghiệp xuất khẩu chỉ có thể chịu trách nhiệm quy trình kỹ thuật sau thu hoạch chứ không thể giải quyết phần gốc rễ khi nông sản đã nhiễm độc từ khâu canh tác.

Bà Phạm Thị Minh Hiếu, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật TP. Cần Thơ giải đáp thắc mắc về đăng ký mã số vùng trồng cho các hợp tác xã. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN

Bà Phạm Thị Minh Hiếu, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật TP. Cần Thơ giải đáp thắc mắc về đăng ký mã số vùng trồng cho các hợp tác xã. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN

Ở góc độ sản xuất, ông Huỳnh Văn Hoảnh, Giám đốc Hợp tác xã Tân Thới 1 (quy mô 58,7 ha, sản lượng 700-800 tấn sầu riêng/năm) chia sẻ, dù đã đạt chuẩn VietGAP và có mã số vùng trồng, hoạt động tiêu thụ vẫn bấp bênh. Thương lái và doanh nghiệp luôn yêu cầu Ban quản lý Hợp tác xã phải cam kết, bảo đảm tuyệt đối về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Đây là đòi hỏi quá sức vì hợp tác xã chỉ có vai trò vận động, hướng dẫn kỹ thuật chứ không có đủ công cụ, chuyên môn để kiểm nghiệm và chịu trách nhiệm pháp lý cho từng hộ dân.

Bên cạnh đó, ông Vũ Tâm Quyền (Công ty cổ phần Eco Agro Việt Nam) cho rằng nhận thức của người dân về mã số vùng trồng còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ bị ép giá tại thị trường nội địa. Mặt khác, thiếu hụt tiềm lực tài chính khiến nông dân khó đầu tư vào trang thiết bị hiện đại như hệ thống tưới tự động hay màng phủ điều tiết độ ẩm.

*Thay đổi tư duy

Để tháo gỡ các rào cản trên, ông Nguyễn Đình Mười, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Vina T&T nhấn mạnh, yếu tố tiên quyết là phải thay đổi tư duy của người nông dân từ "sản xuất nông nghiệp" đơn thuần sang "kinh tế nông nghiệp". Khi người dân ý thức được mình là một mắt xích trong chuỗi giá trị, họ sẽ chủ động tuân thủ các tiêu chuẩn khắt khe. Hiện Vina T&T đang liên kết bền vững với các hợp tác xã tại Cần Thơ để duy trì vùng trồng nhãn (30 ha) và vú sữa (23 ha), đồng thời lên kế hoạch mở rộng mã số vùng trồng cho bưởi nhằm phục vụ các thị trường chiến lược như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Bài học thành công từ Hợp tác xã nhãn Nhơn Nghĩa (quy mô 22,5 ha, năng suất 20 tấn/ha) cho thấy việc áp dụng nghiêm ngặt quy trình VietGAP và ghi chép nhật ký sản xuất từ năm 2019 đã giúp sản phẩm được 4 quốc gia (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Trung Quốc) chấp thuận. Giám đốc Hợp tác xã nhãn Nhơn Nghĩa Phạm Văn Lơ cho biết, việc duy trì quy trình này không chỉ giúp dễ dàng truy xuất nguồn gốc khi xảy ra sự cố mà còn mang lại giá trị kinh tế cao, với giá thu mua chênh lệch hơn 10.000 đồng/kg so với thông thường.

Tương tự, tại Hợp tác xã Vườn cây ăn trái Trường Khương A, Giám đốc Trần Văn Chiến cho biết, đơn vị đã chủ động chuyển đổi sang quy trình canh tác mới để đáp ứng Nghị định 38/NĐ-CP của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Hợp tác tập trung kiểm soát chặt chẽ nguồn phân bón, loại bỏ phân có chứa kali dư thừa và thuốc bảo vệ thực vật độc hại có thời gian cách ly dài.

“Ngoài việc kiên quyết không thu hoạch non chạy theo số lượng, suốt 3 năm liền, sầu riêng của Hợp tác xã khi được đưa đi kiểm nghiệm hoàn toàn đạt tiêu chuẩn an toàn thực vật, không nhiễm Cadimi”, ông Chiến chia sẻ.

Ông Trần Hữu Phúc, Giảng viên Trường Nông nghiệp (Đại học Cần Thơ) chia sẻ các giải pháp kỹ thuật sản xuất cây ăn quả bền vững, đặc biệt trên cây sầu riêng. Ảnh: Thu Hiền – TTXVN

Ông Trần Hữu Phúc, Giảng viên Trường Nông nghiệp (Đại học Cần Thơ) chia sẻ các giải pháp kỹ thuật sản xuất cây ăn quả bền vững, đặc biệt trên cây sầu riêng. Ảnh: Thu Hiền – TTXVN

Về mặt kỹ thuật chuyên môn, ông Trần Hữu Phúc, Giảng viên Trường Nông nghiệp (Đại học Cần Thơ) khuyến cáo nông dân cần áp dụng phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM, ưu tiên sản phẩm sinh học. Để xử lý đất nhiễm độc và ngăn chặn Cadimi hấp thu vào cây, ông Phúc khuyến nghị các nhà vườn cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: tuyệt đối không phun thuốc diệt cỏ để giữ lớp cỏ giữ ẩm, bảo vệ hệ vi sinh vật và đưa oxy vào đất. Cùng đó, đánh rãnh trong vườn để thau rửa chất độc, phèn và kim loại nặng; xới đất từ 1-2 lần/năm nhằm đưa oxy vào tầng sâu, kích thích rễ phát triển. Nâng độ pH của đất để hạn chế tối đa sự hấp thụ Cadimi và ngăn chặn tuyến trùng có hại. Ưu tiên sử dụng nhóm phân lân tinh chất (DAP cao) thay vì phân lân thô để giảm tích lũy kim loại nặng.

Trước những yêu cầu cấp bách của thị trường, đặc biệt là khi Nghị định số 38/2026/NĐ-CP của Chính phủ đi vào thực thi, đặt ra tiêu chuẩn cao hơn về giám sát chất lượng và trách nhiệm của các chủ thể, các cơ quan chức năng thành phố Cần Thơ đã chủ động vào cuộc.

Theo ông Huỳnh Thanh Vui, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật TP. Cần Thơ, trong thời gian tới, đơn vị sẽ tập trung vào ba nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Cụ thể, đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn diện rộng và cập nhật kịp thời các quy định mới của Nghị định 38 cho các hợp tác xã và hộ nông dân. Cùng đó, siết chặt giám sát định kỳ và đột xuất bằng phương thức bốc mẫu ngẫu nhiên tại thực địa đối với 657 mã số vùng trồng ngay trước thời điểm thu hoạch nhằm bảo đảm tính tuân thủ pháp lý. Ngoài ra, tích cực tham mưu cho UBND thành phố ban hành các kế hoạch triển khai chi tiết theo Điều 14 Nghị định 38, hướng dẫn các đơn vị thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo để duy trì mã số ổn định.

“Định hướng tới đây của thành phố là phát triển cây ăn quả theo hướng tập trung, an toàn, ứng dụng công nghệ cao gắn với chuyển đổi số. Các cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp cần tăng cường đối thoại, chuyển giao kỹ thuật và siết chặt công tác quản lý an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật”, bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ thông tin.

Sơ chế chanh không hạt trước khi đóng gói xuất khẩu tại Hợp tác xã trái cây sinh học OCOP. Ảnh tư liệu: Thu Hiền - TTXVN

Sơ chế chanh không hạt trước khi đóng gói xuất khẩu tại Hợp tác xã trái cây sinh học OCOP. Ảnh tư liệu: Thu Hiền - TTXVN

Để giải quyết triệt để bài toán Cadimi, các chuyên gia và doanh nghiệp cũng kiến nghị Nhà nước cần sớm ban hành một đề án cấp quốc gia về kiểm soát kim loại nặng trong đất. Đồng thời, các ngành chức năng cần tăng cường quản lý, thanh tra các đơn vị kinh doanh vật tư nông nghiệp, phân bón trôi nổi trên không gian mạng. Ngành nông nghiệp cần sớm công bố rộng rãi danh mục các loại phân bón an toàn khuyên dùng để định hướng cho người dân, tránh bị thao túng bởi quảng cáo thương mại.

Nhằm hướng tới một ngành nông nghiệp bền vững, đại diện Công ty Diễm Phúc Nguyễn Hồng Trâm Tuyên kiến nghị doanh nghiệp cần tích cực liên kết với hợp tác xã và hộ nông dân để nhân rộng các mã vùng trồng, cơ sở đóng gói đạt chuẩn nhằm đảm bảo đầu ra. Đồng thời, bản thân người nông dân phải kiên quyết không tiếp tục đưa thêm Cadimi vào đất qua các nguồn phân bón bừa bãi.

Sự đồng lòng, kết nối chặt chẽ dựa trên mô hình liên kết chuỗi giá trị khép kín giữa chính quyền, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông là chìa khóa duy nhất để kiểm soát tận gốc hiểm họa Cadimi. Đây là nền tảng cốt lõi để ổn định sinh kế lâu dài cho người dân, xóa bỏ điệp khúc "giải cứu" và đưa ngành hàng trái cây xuất khẩu của Cần Thơ nói riêng, miền Tây nói chung phát triển bền vững trên trường quốc tế.

Thu Hiền/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/lien-ket-chuoi-toan-dien-de-phat-trien-cay-an-qua-xuat-khau/424476.html