Một lòng theo Đảng, Bác Hồ- Bài 1: Núi rừng xanh dậy muôn câu ca
Địa bàn Quân khu 4 gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và thành phố Huế, có 52 dân tộc sinh sống. Trong đó có 12 dân tộc thiểu số. Dẫu chiến tranh ác liệt, hay giữa thời bình còn nhiều khó khăn, thử thách, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn Quân khu 4 luôn một lòng theo Đảng, Bác Hồ.
Trong chuyến đi cùng đoàn công tác Bộ tư lệnh Quân khu 4 kiểm tra chốt dân quân thường trực tại khu vực A Lưới (thành phố Huế), tôi may mắn được đến thăm Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Đức Vai. Dù đã 85 tuổi, mái tóc bạc phơ, nhưng ánh mắt vẫn sáng rực, tràn đầy nghị lực. Ngày đó, cậu bé người Pa Cô sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, sẵn sàng lao vào những trận đánh ác liệt để bảo vệ dân làng, củng cố cơ sở cách mạng. Ông kể về những lần một mình nghiên cứu gỡ mìn, dẫn tổ phục kích, đánh bật địch giữa rừng sâu. Từ năm 1961 đến 1969, Hồ Đức Vai trực tiếp chỉ huy và tham gia hơn 20 trận, diệt và làm bị thương hàng chục tên địch, phá nhiều hầm chông, khiến kẻ thù khiếp sợ.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Đức Vai (thứ 2, bên phải sang) tham quan Nhà lưu niệm đồi A Bia.
Nghe Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Đức Vai kể, tôi hình dung những chiến sĩ người dân tộc Pa Cô, Tà Ôi, Cà Tu khác đã ngã xuống và để lại dấu ấn vô cùng sống động trên dãy Trường Sơn.
Kan Lịch, cô gái Pa Cô từ tuổi thiếu niên đã giác ngộ cách mạng, trực tiếp tham gia nhiều trận đánh, bắn chết 49 tên địch, bắn rơi máy bay, xây dựng lực lượng du kích vững mạnh.
Anh hùng Kăn Tréc, người Pa Cô ở xã Hồng Quảng (nay là xã A Lưới 2, thành phố Huế) kiên cường bám làng giữ đất, vận động dân làm hầm chông. Từ khi là chiến sĩ du kích đến khi là Xã đội phó, Kăn Tréc đã tham gia và trực tiếp chỉ huy du kích đánh 71 trận, diệt 83 tên địch, bắn rơi 3 máy bay.
Anh hùng Cu Tríp (tức Cao Minh Bốn) - người Cà Tu ở xã Hương Lâm (nay là xã A Lưới 4, thành phố Huế). Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí là Xã đội phó, tham gia chiến đấu 488 trận, hạ 548 tên địch, cùng với du kích xã bắn rơi 11 máy bay.
Hồ Thị Đơm - người Pa Cô ở xã Hồng Thượng (nay là xã A Lưới 3, thành phố Huế), từ 15 tuổi đã làm giao liên. Trong kháng chiến chống Mỹ, Hồ Thị Đơm nhập ngũ, là Trợ lý Dân quân Quận 3, tỉnh Thừa Thiên Huế, trực tiếp tham gia 316 trận, diệt 176 tên địch, bắn rơi máy bay, vận động dân đào hàng vạn hầm chông, nuôi gần 200 cán bộ, bộ đội.
Anh hùng A Vầu - người Pa Cô ở xã Hồng Kim (nay là xã A Lưới 1, thành phố Huế) đã hoàn thành hơn 100 chuyến dẫn đường, xây dựng cơ sở cách mạng, không khuất phục tra tấn… Những con người ấy mãi sống trong ký ức của đồng bào A Lưới như những ngọn lửa không bao giờ tắt.
Trong một chuyến công tác khác, tôi đến bản Sơn Hà, xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Mường Xén, tỉnh Nghệ An) và được nghe bà con người Mông kể về Vừ Chông Pao - một cái tên vẫn vang lên trong từng nếp nhà, bãi chăn trâu và con đường vào rừng pơ mu, dù ông đã “về Mường Then” cách đây tròn 10 năm.
Chuyện rằng, ông Pao sinh năm 1930, dưới chân núi Pu Lon, nơi núi rừng quanh năm rậm rạp, áo không đủ ấm, cơm chẳng đủ no. Khi thực dân Pháp và phỉ quấy phá vùng biên, chàng trai họ Vừ chưa đầy 20 tuổi đã nghe theo cách mạng, lập đội du kích ba người chống phỉ, vũ khí chỉ là súng kíp tự chế. Bà con kể: “Không có đội du kích ấy, bản đã bị phỉ thiêu lâu rồi”.
Năm 1950, ông làm Trưởng công an xã Na Ngoi, phối hợp bộ đội xây dựng dân quân tự vệ. Khi vùng thượng Kỳ Sơn tách huyện, ông liên tục được giao các nhiệm vụ quan trọng: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc huyện, rồi Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Sơn suốt 20 năm. Ở cương vị nào, ông cũng quan tâm chăm lo đời sống bà con, đưa chính sách của Đảng và Bác Hồ đến từng bản làng.
Điểm sáng trong câu chuyện của dân bản là hai lần ông được gặp Bác Hồ. Năm 1954, ra Hà Nội, ông hiểu lời Bác dặn về đoàn kết giữa 54 dân tộc. Trở về Tà Cạ, ông kể lại lời Bác cho dân bản bằng tiếng Mông mộc mạc mà ai cũng nhớ. Năm 1963, được gặp Bác Hồ lần hai, ông báo cáo tình hình phỉ hoạt động ở Kỳ Sơn. Bác dặn: Muốn thắng phỉ phải cảm hóa đồng bào. Ông mang lời Bác về, họp ba ngày liền, cử cán bộ vào từng bản vận động. Phong trào “vào rừng gọi người thân” lan rộng. Sau mấy tháng, 58 người quay súng trở về sống lương thiện và thổ phỉ Châu Phà cơ bản bị xóa sổ. Những năm 1990, khi Kỳ Sơn xóa bỏ cây thuốc phiện, ông đến từng “điểm nóng”.

Cán bộ, trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 92 thăm Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Kan Lịch.
Còn tại miền Tây xứ Thanh, dân tộc Mường gắn bó với núi rừng, không chỉ góp sức xây dựng quê hương mà còn hun đúc nên truyền thống trung dũng, kiên cường. Trong mọi bước ngoặt của lịch sử, mỗi khi Tổ quốc lên tiếng, bà con Mường lại đứng dậy như một khối bền bỉ, son sắt. Những người con ưu tú lại bước vào trận tuyến, một lòng thủy chung với Đảng, với Bác Hồ.
Quách Văn Rạng là người con của đồng bào Mường ở xã Thành Công, huyện Thạch Thành (nay là xã Vân Du, tỉnh Thanh Hóa). Anh giữ cương vị Trung đội phó Đồn 125 Công an nhân dân vũ trang Hoàng Liên Sơn vào những ngày đầu cuộc chiến biên giới 1979. Trước mũi súng quân thù, Quách Văn Rạng mưu trí chỉ huy đơn vị giữ vững trận địa bên bờ Nậm Thi, trực tiếp bắn cháy hai xe tăng địch tại dốc Máng Nước, tiêu diệt nhiều toán quân xâm lược. Năm ngày đêm bị vây ép giữa lửa đạn, anh vẫn dũng cảm chống trả, quyết tử để đồng đội được sống. Và khi rơi vào tay giặc, anh kiên cường giữ trọn khí tiết không khai báo.
Bùi Văn Bịn - người Mường ở xã Thọ Sơn, huyện Triệu Sơn (nay là xã Thọ Bình, tỉnh Thanh Hóa) bước vào chiến trường Tây Nguyên với tinh thần “đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm”. Là chiến sĩ đến cán bộ tiểu đoàn (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3), trải qua 48 trận đánh từ năm 1970 đến năm 1975, Bùi Văn Bịn cùng đơn vị tiêu diệt gần 1.000 tên địch; riêng anh diệt 53 tên, bắt sống 3 tên. Trong chiến dịch Buôn Ma Thuột lịch sử, dù bị thương nặng, anh vẫn bình tĩnh tổ chức đội hình, chỉ huy đơn vị đột phá vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi trận đánh then chốt. Với những chiến công xuất sắc, anh được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nhiều tấm gương khác như Nguyễn Đình Quân, Lương Văn Biềng, Lê Cấp Bằng, Bùi Xuân Chúc… đã tạo nên một chân lý không thể phủ nhận: Dân tộc Mường luôn trung thành với Đảng, với cách mạng, sẵn sàng hiến dâng những người con ưu tú nhất cho Tổ quốc.
Như người Mường ở Thanh Hóa, đồng bào dân tộc thiểu số ở miền Tây Quảng Trị cũng bình dị nhưng kiên cường một lòng đi theo Bác Hồ. Anh hùng Hồ Soi - người Pa Cô, quê ở xã Lìa, huyện Hướng Hóa (nay là xã Lìa, tỉnh Quảng Trị), nhập ngũ khi 19 tuổi, gùi hàng cho Mặt trận Trị – Thiên trên những cung đường dốc dựng đứng, bom mìn rình rập. Mỗi chuyến đi, từ 30kg, ông tự rèn luyện, cải tiến dây đai, nâng năng suất lên 150kg, dẫn đầu toàn đơn vị. Là Đại đội trưởng Đại đội 4 vận tải gùi thồ, thuộc Cục Hậu cần Quân khu Trị - Thiên, trong các trận chống phục kích bảo vệ kho hàng, ông chỉ huy đánh trả quyết liệt, diệt 35 tên địch. Anh hùng Pi Ra Zắc, người Vân Kiều quê ở xã Hướng Tân, huyện Hướng Hóa (nay là xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị). Giữa thời Mỹ – Diệm lê máy chém, bà sớm giác ngộ cách mạng, nuôi giấu cán bộ, làm giao liên, dẫn đường. Khi bị bắt, dù phải chịu tra tấn tàn bạo, bà vẫn giữ trọn khí tiết. Năm 1962, Pi Ra Zắc được ra Hà Nội gặp Bác Hồ, được Bác đặt tên là “Hồ Thị Đá” như một lời khẳng định cho bản lĩnh thép của người phụ nữ kiên trung.
Có thể thấy rằng, từ miền Tây Xứ Thanh dọc theo dải Trường Sơn, đến những cánh rừng đại ngàn A Lưới, mỗi câu chuyện về những con người bình dị mà kiên cường của đồng bào các dân tộc thiểu số đều cho thấy một điểm chung là không bao giờ phai nhạt niềm tin son sắt với Đảng, với Bác Hồ. Niềm tin ấy được hun đúc qua từng trận đánh giữ bản, giữ làng và qua cả những hy sinh lặng thầm mà kiêu hãnh.












