Nhà văn Trầm Hương: Thiên lý rong ruổi, văn chứa non sông
Năm 1996, cái tên Trầm Hương đã gắn với bộ phim truyện truyền hình 16 tập nổi tiếng của TFS: Người đẹp Tây Đô.

Nhà văn Trầm Hương (áo vàng) cùng các liên lạc viên A101 Bến Tre đi thực tế lại cửa biển để làm tư liệu cho tập truyện ký Thuyền và Bến. Ảnh: NVCC
Thời ấy, bộ phim tạo được tiếng vang lớn, hầu như ai cũng nhắc đến hằng ngày, báo chí đưa tin từ diễn viên, đạo diễn, đến câu chuyện hậu trường.
Nhà văn Trầm Hương là biên kịch của bộ phim ấy, cũng nhanh chóng được giới mộ điệu chú ý.
Chạm vào đâu cũng thấy mình mắc nợ
Nhà văn Trầm Hương sinh năm 1963, tại Bình Đại, Bến Tre cũ, nay là Vĩnh Long, hiện là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh khóa VIII (2020 - 2025). Như chính nhà văn Trầm Hương chia sẻ cùng tôi thì nghề viết với chị là con đường thiên lý. Hành trình sống và viết luôn là những cuộc đi tìm không mòn mỏi. Trên quãng đường ấy, chị luôn may mắn hạnh ngộ nhiều chất liệu sáng tác.
Có lần, tôi hỏi chị về bút danh Trầm Hương, bởi với nghề viết, ai cũng ký thác vào cái tên mình một niệm ý. Chị cười tươi, má lúm đồng tiền rất sâu. Với chị, cái tên Trầm Hương như vận vào mình, bởi khi chọn bút danh đó, chị cũng không nghĩ mình đã tự đốt cháy mình. Nhiều khi đến nỗi kiệt cùng cho trang văn. Nhưng, phải cháy lên mới lan tỏa mùi trầm.
Nghề viết đòi hỏi sự hy sinh. Nhất là với phụ nữ. Ngoài câu chuyện làm nghề, còn câu chuyện gia đình, và những vụn vặt vây quanh mình.
Tuy thế, chị vẫn bảo có một câu thơ chị tâm đắc và xem như “kim chỉ nam”. Đó là câu thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải: “Đời không duyên nợ thà không sống/ Văn chứa non sông mới có hồn”. Và cho đến bây giờ, với gần 30 đầu sách đã in, hàng loạt giải thưởng danh giá, những tập kịch bản gây ấn tượng sâu sắc với công chúng, Trầm Hương vẫn bền bỉ với “kim chỉ nam” văn chương của mình.
Trên hành trình thiên lý văn chương của chị, có hai tác phẩm khiến tôi bồi hồi rung cảm là trường ca Hoa và Nước và tập truyện ký Thuyền và Bến. Cả hai ấn phẩm đều nói về những hy sinh, cống hiến của những bà mẹ Việt Nam, của những con người đã góp phần làm nên sự thành công cho cuộc kháng chiến kỳ vĩ của dân tộc. Khi tặng tôi 2 ấn phẩm này, Trầm Hương đã chia sẻ rất cảm xúc. Với chị câu chuyện hòa bình hôm nay luôn gắn liền với một quá khứ khiến chúng ta phải cúi đầu cảm ơn.
Từ lúc còn là cán bộ của Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, chị tiếp xúc các hiện vật của những Bà mẹ Việt Nam anh hùng, những nữ liệt sĩ kiên trung và những câu chuyện về cuộc chiến đẫm nước mắt. Chị bắt đầu hành trình để những kỷ vật không chỉ cất lời trong tủ kiếng mà phải hiện diện trên trang viết, phải đi vào đời sống của người Việt bằng các tác phẩm. Hơn hết với chị những hy sinh ấy, những câu chuyện ấy phải đến được với thế hệ trẻ hôm nay, bởi chính họ mới là tương lai của đất nước. Một thế hệ tương lai thấu hiểu tận tường vẻ đẹp của hòa bình từ những câu chuyện lịch sử.
Chị lưu hàng trăm quyển sổ tay ghi chép những câu chuyện bi hùng của quá khứ, chứa đựng những số phận con người trĩu nặng, nhắc chính chị phải quyết liệt dấn thân vào những chuyến đi, vào từng trang viết. Chị từng ngồi cạnh bên tôi, một đêm của chuyến đi thực tế chung vào năm 2024, dưới ánh trăng tròn của một vùng sóng nước, chị bảo khi mở từng trang tư liệu, chạm vào đâu cũng thấy mình đang mắc nợ.

Nhà văn Trầm Hương (ôm hoa) khi làm phim tư liệu về Anh hùng lực lượng nhân dân, Đại tá, Cụm trưởng tình báo H63 Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang, người mặc quân phục). Ảnh: NVCC
Khi kỷ vật cất lời
Tôi nhớ mình đã đọc trường ca Hoa và Nước ngay trong một đêm. Đọc và bị cuốn vào đó mãi không rứt được. Đó là một trường ca ám ảnh tôi khi ngôn ngữ thơ của chị khắc họa sự gian lao mà anh dũng của những nữ liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên khắp mọi miền đất nước.
Chiến tranh đã mang đi những người con gái năm xưa, những đứa con của mẹ, chỉ trả về là những kỷ vật. Chiến trường nung tuổi thanh xuân của con các mẹ thành tro bụi. Nhưng, hầu như bà mẹ nào cũng gạt nước mắt mà làm giao liên, mà cầm súng, mà tận tụy cả phần đời mình để đổi lại ngày bình yên cho đất nước. Trường ca Hoa của Nước khiến tôi cay mắt mỗi khi đi qua một nhân vật.
Hồi cuối năm, hai chị em hẹn nhau ở một quán cà phê rất đặc biệt. Vị trí chúng tôi ngồi, ngày xưa là một cái bót trứ danh tàn độc nhất mà bất cứ chiến sĩ cách mạng nào cũng biết. Chỉ có cửa vào chứ không có cửa ra. Trên vùng đất Bót Catinat ngày xưa, nay mọc lên những tòa cao ốc chót vót. Sự sầm uất của một đô thị cũng chẳng thể làm phai mờ ký ức về cuộc chiến.
Tôi nói với chị chẳng có văn bản lưu trữ nào viết về những cuộc chiến, những thân phận con người trong thời tao loạn gây cảm xúc mạnh bằng các tác phẩm văn chương. Bởi khi đọc có nghĩa là con người ta phải vận dụng mắt để nhìn, não để nghĩ, và tâm mình để cảm nhận. Tất cả sẽ tạo ra hình ảnh gợi lên trong đầu, và cảm xúc trong tim.
Nhưng, để viết được những câu chữ rung chạm đến như vậy, người viết phải kỳ công dụng tâm lực mình vào. Bởi đề tài chiến tranh cách mạng và người lính chỉ cần sai một chữ, mất một chi tiết là có tội với lịch sử, với anh linh của tiền nhân.
Những chuyến đi ròng rã suốt mười năm trời, với nhiều tháng ngày lặn lội những nơi sâu và xa để lần giở từng trang đời của nhân vật mới có thể cho Trầm Hương độ dày tư liệu mà sáng tác tập trường ca này. Tôi cho rằng đó là sự hy sinh rất lớn của nhà văn cho mảng đề tài hay nhưng khó viết này.
Tư liệu luôn là thứ quý giá nhất, nó đòi hỏi nhà văn phải đi đến cùng, dẫu nhân vật đã mất thì vẫn còn những người xung quanh như con cái, bạn bè. Nếu may mắn nhân vật còn sống, thì đôi khi năm ba hôm sống cùng nhân vật cũng chưa chắc ghi lại hết câu chuyện cuộc đời họ, câu chuyện chiến tranh bởi mùi khói súng và nỗi đau đôi khi ám lên cả quãng đời của người lính. Hành trình mười năm cho một tác phẩm, kỳ thực khiến tôi phải thán phục.
Giá trị sau trang viết
Nhưng có lẽ Trầm Hương là nữ nhà văn luôn vượt qua nhiều giới hạn của thách thức. Để lần theo các cụm bến ven biển Nam Bộ của đường Hồ Chí Minh trên biển chị đã mất gần mười lăm năm trời. Đó là hành trình để những bức ảnh không nằm yên trong máy tính mà hiện hữu trên trang sách.
Các cụm bến này được Đoàn 962 dày công tổ chức từ Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Trà Vinh, cho đến mũi Cà Mau để đón các con tàu không số của Đoàn 125 chuyển vũ khí vào Nam chi viện cho các chiến trường.
Chị phải sắp xếp việc gia đình, nhờ người lo toan việc nhà cửa, rồi cả việc đưa đón cô con gái và cậu con trai để chị có thể rong ruổi đi tìm lời giải cho những tấm hình mà ở đó nhân vật không rõ tên, không quân hàm, không hòm thư.
Nhưng, chị vẫn quyết tâm đi tìm, bởi nếu tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển có khoảng 100 chiến sĩ hy sinh nằm lại giữa lòng đại dương thì ở các cụm bến dọc ven biển Nam Bộ đến Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày ấy có hàng ngàn đồng bào, chiến sĩ hy sinh trong quá trình lập bến, chiến đấu bảo vệ, vận chuyển vũ khí. Cứ vậy, trái tim dẫn dắt chị đi dọc các bến xưa ấy để viết nên câu chuyện của Thuyền và Bến. Càng đọc lại càng thấm thía sự hy sinh cao cả của cuộc chiến đấu vì hòa bình. Trên dải đất hình chữ S này, nơi nào cũng có dấu chân của những con người anh hùng. Chính họ, dù thầm lặng nhưng đã góp nên một vệt sáng để hòa bình ngời lên chói lọi.
Đường văn thiên lý của Trầm Hương là con đường của trái tim người viết đến trái tim của độc giả. Người viết vì tình mà viết, người đọc cũng vì tình mà hạnh ngộ những cảm xúc rất đỗi thiêng liêng. Như chính chị từng nói cùng tôi, trong lúc hai chị em đi dạo đêm trên đảo Thiềng Liềng, chuyến đi thực tế sáng tác cách đây hai năm. Chị sống ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng chính những miền đất xa cứ vẫy gọi chị. Bởi chị biết ở những nơi gió nắng xa xôi kia còn có những ẩn số về cuộc đời, số phận, còn có ai đó đang chờ đợi chị đến để chia sẻ.
Từ trang viết của mình, chị đã kể cho các con chị nghe về sức nặng những ngày hòa bình mà hai con đang thụ hưởng. Bây giờ, hai người con ấy lại là người bạn đồng hành trên đường thiên lý văn chương của Trầm Hương và trở thành dịch giả cho những tác phẩm của mẹ. Cũng từ trang viết, Trầm Hương đã kết nối với nhiều tấm lòng để hàng trăm căn nhà tình nghĩa được xây nên trên mọi miền đất nước. Như phận số an bài, Trầm Hương gánh trên đôi vai mình trách nhiệm của người kể chuyện của quá khứ và hiện tại, của chiến tranh và hòa bình, của những người bình thường mà làm nên những điều phi thường.











