Phát triển thị trường vốn, mở lối cho tăng trưởng dài hạn

Phát triển thị trường vốn sâu rộng, minh bạch và ổn định đang trở thành điều kiện quan trọng để khai mở dư địa cho tăng trưởng cao trong trung và dài hạn.

Không thể chỉ dựa vào tín dụng

Trong nhiều năm, hệ thống ngân hàng giữ vai trò trung tâm trong cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, cùng với mục tiêu tăng trưởng cao hơn, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho hạ tầng, khu vực tư nhân, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh sẽ ngày càng lớn. Nếu phần lớn nhu cầu đó tiếp tục dồn vào hệ thống ngân hàng, rủi ro mất cân đối kỳ hạn, áp lực thanh khoản và sức ép an toàn tài chính sẽ tăng lên.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tích lũy các yếu tố sản xuất và huy động vốn qua ngân hàng sang mô hình dựa vào năng suất, khu vực tư nhân và phát triển thị trường vốn sâu rộng hơn. Điều đó không có nghĩa là làm giảm vai trò của ngân hàng, mà là tạo ra một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, trong đó ngân hàng, thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và các định chế tài chính cùng chia sẻ vai trò cung ứng vốn.

Nhu cầu vốn cho giai đoạn tới là rất lớn, trong đó tín dụng ngân hàng vẫn là kênh quan trọng, nhưng không thể là kênh gánh vác gần như toàn bộ nhu cầu vốn của nền kinh tế. Một thị trường vốn phát triển hơn sẽ giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn huy động vốn, giảm phụ thuộc vào vay ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện để nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển.

Theo Quyết định 1726/QĐ-TTg ngày 29/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ (Phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030), mục tiêu đặt ra là quy mô thị trường cổ phiếu lên 120% GDP vào năm 2030 (từ mức 78% GDP năm 2025 và dự kiến phấn đấu đạt ít nhất 100% GDP năm 2026); đồng thời nâng quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp lên ít nhất 25% GDP, tức hơn gấp đôi mức dư nợ hiện khoảng 10% GDP. Những mục tiêu này cho thấy, phát triển thị trường vốn cần được đẩy mạnh để trở thành một cấu phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng giai đoạn tới. Tuy nhiên, phát triển thị trường vốn không chỉ là mở rộng quy mô, bởi nếu thị trường lớn hơn nhưng thiếu minh bạch, thiếu sản phẩm chất lượng, thiếu nhà đầu tư tổ chức, thiếu kỷ luật công bố thông tin… cũng đồng nghĩa với rủi ro sẽ tăng lên. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là “lớn hơn”, mà là “sâu hơn, minh bạch hơn và bền vững hơn”.

Phát triển thị trường vốn cần được đẩy mạnh để trở thành một cấu phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng giai đoạn tới

Phát triển thị trường vốn cần được đẩy mạnh để trở thành một cấu phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng giai đoạn tới

Minh bạch và niềm tin là nền móng

Thị trường vốn chỉ có thể phát triển bền vững khi niềm tin của nhà đầu tư được củng cố. Bài học từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong những năm gần đây cho thấy, khi niềm tin suy giảm, hoạt động phát hành có thể chững lại nhanh chóng, tác động trực tiếp tới khả năng huy động vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp. Ngược lại, khi khuôn khổ pháp lý rõ ràng, thông tin minh bạch và quyền lợi nhà đầu tư được bảo vệ tốt hơn, thị trường có thể dần phục hồi và trở lại vai trò kênh dẫn vốn quan trọng. Thực tế sau giai đoạn phát hành sụt giảm mạnh, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang dần phục hồi. Nhưng để kênh này thực sự phát triển lành mạnh và bền vững, yếu tố then chốt vẫn là minh bạch, chuẩn mực quản trị và khả năng giám sát rủi ro.

Các chuyên gia cho rằng, quá trình nâng hạng thị trường không chỉ có ý nghĩa về danh mục phân loại, mà nhằm củng cố niềm tin nhà đầu tư, tăng cường bảo vệ nhà đầu tư và thúc đẩy huy động vốn cho Chính phủ, khu vực tư nhân, doanh nghiệp, tăng trưởng cũng như nhà đầu tư quốc tế. Việc FTSE Russell thông báo nâng hạng Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp được kỳ vọng mở ra cơ hội thu hút thêm dòng vốn đầu tư quốc tế. Nhiều tổ chức và chuyên gia đều nhận định, tâm lý thị trường đã cải thiện nhờ thông báo này, sau một loạt cải cách mà Việt Nam đã tiến hành trong thời gian qua.

Theo ông Vũ Chí Dũng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Hợp tác quốc tế, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhiều tới hai yếu tố: tính minh bạch của thông tin và cơ hội đầu tư. Vì vậy, việc yêu cầu doanh nghiệp công bố thông tin bằng tiếng Anh, cải thiện quản trị công ty, nâng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng, nới lỏng giới hạn sở hữu nước ngoài hay phát triển các sản phẩm chất lượng trên thị trường… là những nội dung có ý nghĩa quan trọng. Những cải cách này không chỉ phục vụ nâng hạng, mà còn tạo nền tảng để thị trường vận hành theo chuẩn mực cao hơn.

Một thị trường vốn minh bạch và bền vững cũng cần nhiều hơn sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức. Khi thị trường dựa quá nhiều vào nhà đầu tư cá nhân, tâm lý thị trường dễ dao động trước tin tức và biến động ngắn hạn. Sự phát triển của các quỹ đầu tư, công ty quản lý quỹ, quỹ hạ tầng, quỹ hưu trí hoặc các định chế đầu tư dài hạn sẽ giúp tăng tính ổn định, cải thiện chất lượng định giá và tạo nguồn vốn bền bỉ hơn cho nền kinh tế. Vì vậy, phát triển

thị trường vốn trước hết là xây dựng và củng cố niềm tin. Niềm tin đó không đến từ kỳ vọng tăng giá ngắn hạn, mà từ khuôn khổ pháp lý ổn định, thông tin đầy đủ, quản trị công ty tốt, bảo vệ nhà đầu tư hiệu quả và năng lực giám sát đủ mạnh. Thiếu những nền tảng này, thị trường vốn khó trở thành kênh dẫn vốn dài hạn đúng nghĩa.

Cấu phần quan trọng của chiến lược tăng trưởng dài hạn

Trong giai đoạn tới, phát triển thị trường vốn cần được nhìn như một phần của chiến lược tăng trưởng dài hạn. Việt Nam đang phát triển hạ tầng quy mô lớn, thúc đẩy khu vực tư nhân, nâng cấp doanh nghiệp trong nước và chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, nhu cầu về vốn dài hạn sẽ vượt xa khả năng đáp ứng của một kênh tài chính đơn lẻ, dù từ ngân sách hay tín dụng ngân hàng. Phát triển thị trường vốn sâu rộng vì vậy vừa là nhu cầu, vừa là yêu cầu không thể thiếu.

Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên Chính sách công, Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng Việt Nam đã sẵn sàng và chủ động hơn trong phát triển hệ thống tài chính nhằm thu hút thêm vốn quốc tế, không chỉ là đầu tư trực tiếp nước ngoài mà cả đầu tư gián tiếp qua danh mục. Theo ông Thành, điều này vừa tạo thêm cơ hội tài trợ vốn cho khu vực tư nhân, vừa phát triển không chỉ khu vực ngân hàng trong nước mà cả thị trường vốn. Tuy nhiên, chuyên gia này cũng lưu ý, thách thức là phải thực hiện quá trình này, đồng thời với nâng cao năng lực quản lý, giám sát.

Với khu vực tư nhân, thị trường vốn sâu hơn sẽ mở thêm không gian huy động vốn dài hạn. Doanh nghiệp không chỉ cần vốn lưu động ngắn hạn, mà cần vốn để đầu tư công nghệ, mở rộng quy mô, nâng chuẩn quản trị, tham gia chuỗi cung ứng và đổi mới mô hình kinh doanh. Nếu chỉ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, nhiều doanh nghiệp sẽ khó tiếp cận nguồn lực phù hợp cho các dự án dài hạn hoặc có mức độ rủi ro đổi mới cao hơn. Thị trường cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư và các công cụ tài chính mới có thể bổ sung cho các nhu cầu như vậy.

Với phát triển hạ tầng, thị trường vốn càng có ý nghĩa lớn. Các dự án hạ tầng thường có quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi dài và cần cơ chế phân bổ rủi ro phù hợp. Nếu có các sản phẩm như quỹ hạ tầng, trái phiếu dự án, công cụ tăng cường tín nhiệm và sự tham gia của nhà đầu tư tổ chức, khu vực tư nhân có thể tham gia nhiều hơn vào các dự án có khả năng tạo lan tỏa cho nền kinh tế. Điều này giúp giảm áp lực lên ngân sách và tín dụng, đồng thời tạo thêm kênh huy động nguồn lực xã hội cho tăng trưởng.

Dù vậy, mở rộng thị trường vốn phải đi cùng kỷ luật thị trường. Các doanh nghiệp muốn huy động vốn cần nâng chuẩn công bố thông tin, quản trị công ty, sử dụng vốn đúng mục đích và chịu trách nhiệm trước nhà đầu tư. Cơ quan quản lý cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực giám sát, xử lý nghiêm sai phạm, đồng thời tạo thuận lợi cho các sản phẩm mới phát triển trong khuôn khổ an toàn. Phát triển thị trường vốn vì thế là yêu cầu tất yếu của mô hình tăng trưởng mới, trong đó nguồn lực dài hạn được phân bổ hiệu quả hơn; khu vực tư nhân, doanh nghiệp có thêm lựa chọn nguồn lực tài chính; nền kinh tế hiện thực hóa được mục tiêu tăng trưởng cao nhưng vẫn giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng.

Đỗ Lê

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/phat-trien-thi-truong-von-mo-loi-cho-tang-truong-dai-han-183069.html