Quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn ở đô thị
Trong bối cảnh đô thị Việt Nam tăng trưởng nhanh, áp lực từ chất thải sinh hoạt, chất thải nhựa cùng các dạng ô nhiễm mới đang trở thành bài toán nan giải, đòi hỏi tư duy quản lý hiện đại và bền vững hơn. Không chỉ dừng lại ở thu gom và xử lý theo cách truyền thống, nhiều nghiên cứu và mô hình thí điểm đã cho thấy việc chuyển sang kinh tế tuần hoàn trong quản lý chất thải đô thị hoàn toàn khả thi và có thể mang lại giá trị kinh tế - xã hội lớn nếu được triển khai đồng bộ.
Việt Nam sở hữu hệ sinh thái tự nhiên đa dạng, cùng nguồn lao động dồi dào, nhưng quá trình đô thị hóa nhanh khiến lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các thành phố lớn tăng mạnh và trở thành một trong những thách thức môi trường đáng kể nhất. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trung bình mỗi người Việt Nam phát sinh 0,8 kg chất thải/ngày; riêng khu vực đô thị, con số này lên tới 0,9–1,2 kg/người/ngày, tạo sức ép lớn lên hệ thống thu gom – xử lý. Dù tỷ lệ thu gom rác ở đô thị đạt 90–95%, tại nông thôn chỉ khoảng 70%. Tỷ lệ tái chế còn rất thấp: mỗi năm có 1,8 triệu tấn nhựa bị thải ra nhưng chỉ 27% được tái chế, phần còn lại thất thoát ra môi trường.

Đáng chú ý, thành phần rác thải sinh hoạt của Việt Nam có đặc trưng rất riêng so với các nước phát triển: 60–80% là rác hữu cơ, 12–15% là nhựa, còn lại là giấy, kim loại và vô cơ khác. Đây đều là những vật chất có tiềm năng tuần hoàn cao, song hiện phần lớn đang bị chôn lấp hoặc đốt, làm giảm giá trị tái sử dụng. Theo TS. Nguyễn Thị Hạnh Tiên Khoa Công nghệ Sinh học, Hóa học và Kỹ thuật Môi trường (Đại học Phenikaa), “chất thải là tài nguyên”, nhưng Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu khai thác giá trị của nguồn tài nguyên này. Do đó, chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn trong quản lý chất thải đô thị là yêu cầu cấp thiết và phù hợp với định hướng Chiến lược quốc gia.
Nghiên cứu thực địa tại các bãi xử lý và khu dân cư cho thấy hệ thống quản lý chất thải hiện nay vận hành qua hai kênh chính. Ở kênh chính thức, rác được thu gom tập trung và đưa về bãi chôn lấp hoặc lò đốt, nơi công nhân môi trường tiếp tục phân loại thủ công để thu hồi nhựa, giấy, kim loại và xử lý phần hữu cơ thành compost. Tuy nhiên, do rác không được phân loại tốt từ nguồn, phần hữu cơ lẫn nhiều tạp chất, khiến compost khó đạt tiêu chuẩn thương mại, tiêu thụ hạn chế và gần như không mang lại giá trị kinh tế. Song song với đó, kênh phi chính thức gồm lực lượng nhặt ve chai, đồng nát và các điểm thu mua nhỏ lẻ cũng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi tái chế. Tại bãi rác Hòa Phú, Đắk Lắk ( thuộc Phú Yên cũ), TS. Tiên ghi nhận hàng trăm người làm việc từ 6 giờ sáng đến khuya trong điều kiện khắc nghiệt, thu nhập chỉ 150.000–250.000 đồng/ngày. Dù không thuộc hệ thống quản lý chính thức, họ đóng góp đáng kể vào tỷ lệ tái chế nhựa, giấy, kim loại, nhưng lại thiếu trang bị bảo hộ, không được công nhận pháp lý và dễ chịu tổn thương trước biến động thị trường phế liệu.
Từ các khảo sát hiện trường này, nhóm nghiên cứu của Đại học Phenikaa và Phòng Công nghệ Quốc gia Việt Nam tiếp tục thực hiện nghiên cứu điển hình tại bãi xử lý và khu dân cư ở Tuy Hòa, qua đó chỉ ra tiềm năng tuần hoàn chất thải còn rất lớn. Khảo sát tại cấp hộ gia đình cho thấy 70% rác sinh hoạt là hữu cơ, 12% là nhựa có giá trị tái chế, phần còn lại là vật liệu khó thu hồi hoặc nhựa giá trị thấp. Đây là cấu trúc thành phần cho thấy dư địa tái chế đáng kể nếu có hướng dẫn và hạ tầng phân loại phù hợp.
Thêm vào đó, nghiên cứu thí điểm mô hình ủ compost tại hộ cho thấy một gia đình có thể tự xử lý 2 kg rác hữu cơ mỗi ngày, giúp giảm tới 18% lượng rác đưa ra bãi xử lý. Tuy nhiên, thị trường tiêu thụ compost gần như chưa có, khiến sản phẩm chủ yếu chỉ dùng trong nội bộ hộ gia đình. Mô hình thu gom hữu cơ theo tuyến phố, với 150 hộ tham gia, thu được hơn 200 kg rác hữu cơ/ngày để chuyển lên bãi ủ. Dù vậy, mô hình này đòi hỏi xe chuyên dụng, tăng chi phí vận hành và cần cơ chế đưa compost quay trở lại phục vụ mảng xanh đô thị. Chất lượng hữu cơ chưa đồng nhất cũng là rào cản thương mại hóa.
Từ các kết quả nghiên cứu, TS. Nguyễn Thị Hạnh Tiên chỉ ra ba nhóm rào cản đang “chặn dòng” tiến trình đưa kinh tế tuần hoàn vào quản lý chất thải đô thị. Rào cản đầu tiên nằm ở hành vi và nhận thức: nhiều gia đình thực tế muốn phân loại rác, nhưng khi không có hệ thống thu gom tách dòng phù hợp, toàn bộ nỗ lực của họ lại bị vô hiệu khi rác bị trộn lẫn trên xe vận chuyển. Thêm vào đó, người dân chưa thấy rõ giá trị kinh tế hay lợi ích cụ thể từ việc phân loại, khiến họ khó duy trì thói quen. Rào cản thứ hai thuộc về hạ tầng, khi các đô thị vẫn thiếu thùng rác phân loại, thiếu xe chuyên dụng để thu gom theo từng dòng rác và thiếu cả công nghệ xử lý hiện đại. Việc chưa hình thành được các cơ sở tái chế quy mô lớn khiến những dòng rác đã được phân loại vẫn không tìm được “đầu ra” phù hợp. Rào cản cuối cùng là thị trường, bởi phân hữu cơ vẫn khó tiêu thụ do chất lượng chưa đạt chuẩn, còn nhựa giá trị thấp gần như không thể tái chế trong nước vì thiếu doanh nghiệp công nghệ cao. Trong bối cảnh đó, các cơ chế tài chính như EPR hay ưu đãi thuế phí vẫn chưa đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp tư nhân tham gia vào chuỗi tuần hoàn. Ba nhóm rào cản này đang khiến tiềm năng tái chế, tái sử dụng trong quản lý rác đô thị chưa thể phát huy đúng mức.
Vượt qua những rào cản này đòi hỏi sự phối hợp đa bên. TS. Tiên nhấn mạnh người dân đóng vai trò trung tâm khi phân loại rác ngay từ nguồn; các đơn vị thu gom phải tổ chức thu gom tách dòng, tránh tình trạng tái trộn; doanh nghiệp tái chế cần đầu tư công nghệ hiện đại và mở rộng thị trường cho vật liệu tái chế. Chính quyền địa phương phải đứng ở vị trí trung tâm, ban hành các quy định phù hợp, hỗ trợ tài chính và giám sát thực thi. Cuối cùng, nhà sản xuất phải thực hiện trách nhiệm mở rộng, từ thiết kế bao bì dễ tái chế đến tham gia hệ thống tái chế sau tiêu dùng. Chỉ khi tất cả các mắt xích cùng vận hành đồng bộ, kinh tế tuần hoàn trong chất thải đô thị mới có thể hình thành và phát triển bền vững.
Từ những cơ sở đó, TS. Nguyễn Thị Hạnh Tiên khẳng định quản lý chất thải đô thị là lĩnh vực có tiềm năng tuần hoàn rất lớn, khi 70–80% rác hoàn toàn có thể tái sử dụng hoặc tái chế, giúp giảm chôn lấp, hạn chế phát thải và tiết kiệm tài nguyên. Nhưng để chuyển đổi thành công, Việt Nam không chỉ cần công nghệ mới mà còn phải thay đổi hành vi, nâng cấp hạ tầng, phát triển thị trường tái chế và thúc đẩy phối hợp liên ngành. Khi những yếu tố này được triển khai đồng bộ, các đô thị sẽ biết cách “khai thác” nguồn tài nguyên từ rác thải, giảm áp lực môi trường và tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bền vững mà Chiến lược kinh tế tuần hoàn quốc gia đặt ra.











