Sau tái thiết, cần có Nghị định hướng dẫn hoạt động cho đại học vùng
Cùng với tái cấu trúc tổ chức, Chính phủ cần sớm ban hành một nghị định mới, quy định rõ sứ mệnh, chức năng, phân cấp, phân quyền trong đại học vùng.
Tại phiên thảo luận ở nghị trường Quốc hội về dự án Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) diễn ra ngày 20/11, một số ý kiến bày tỏ băn khoăn về việc có nên tiếp tục duy trì mô hình đại học vùng.
Nội dung này đang nhận được nhiều sự quan tâm của “người trong cuộc” và cả giới chuyên gia về giáo dục đại học. Thời gian qua vị trí, vai trò và hiệu quả hoạt động của mô hình đại học vùng đã dần được khẳng định qua thực tiễn tuy nhiên việc thiếu giao quyền quyết định mạnh từ cấp chủ quản cho đại học vùng, thậm chí đôi lúc còn chồng lấn đầu mối và chưa đảm bảo thực hiện cùng 1 chiến lược chung phục vụ vùng, nhất là khi vừa có cả Hội đồng đại học và Hội đồng trường đại học thành viên. Do đó, thay vì bỏ đại học vùng, vấn đề đặt ra là cần tiếp tục đánh giá, đồng thời tái cấu trúc mô hình đại học vùng trong hệ thống giáo dục đại học. Cùng với đó là sau khi tái thiết mô hình, cần phải có hướng dẫn chung cho đại học vùng hoạt động theo mô hình mới.
Đại học vùng là cơ chế hữu hiệu để tích hợp và chia sẻ nguồn lực
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Nhĩ - Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng, vấn đề không nằm ở bản thân mô hình đại học vùng, mà ở cách tổ chức mô hình ra sao. Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra lúc này là cần tái cấu trúc mô hình đại học vùng theo hướng tinh gọn và hiệu quả hơn, giảm đầu mối, giảm chồng chéo và nâng cao tính liên ngành.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Nhĩ. Ảnh: Ngọc Mai
“Thực tế hiện nay một số kiến nghị xóa bỏ mô hình đại học vùng vì họ cho rằng có một tầng nấc trung gian vận hành cồng kềnh, dẫn tới tâm lý muốn “ly khai” ở một số đơn vị thành viên của đại học vùng. Những trường muốn tách ra không phải vì phủ nhận giá trị của mô hình đại học vùng, mà là do cơ chế vận hành khiến trường đại học thành viên cảm thấy ràng buộc, không nhận được giá trị tương xứng", thầy Nhĩ chia sẻ.
Cùng chia sẻ, Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa - nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, mô hình đại học vùng được thành lập với mục tiêu chiến lược là hình thành các trung tâm học thuật đa ngành, có khả năng liên kết và điều phối phát triển vùng, tránh tình trạng các trường đại học phát triển rời rạc, manh mún.
Trong hơn ba thập niên qua, đại học vùng đã thể hiện vai trò đầu tàu, tiên phong trong đổi mới quản trị và hợp tác quốc tế phạm vi vùng. Tuy nhiên, hiệu suất hoạt động của mô hình này chưa tương xứng với kỳ vọng ban đầu. Nguyên nhân chính được xác định nằm ở cơ chế vận hành, thậm chí đôi khi còn chồng lấn đầu mối.
Từ góc độ chính sách và quản trị giáo dục đại học, nếu xóa bỏ mô hình đại học vùng chỉ là giải pháp hành chính bề mặt cho vấn đề cấu trúc sâu hơn. Việc này sẽ làm mất đi vai trò chiến lược cốt lõi mà đại học vùng đã gánh vác trong 30 năm qua (nhưng chưa được thực hiện tốt).

Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa. Ảnh: NVCC
“Đại học vùng là cơ chế hữu hiệu để tích hợp và chia sẻ nguồn lực. Mô hình này cho phép huy động, quản lý, sử dụng và chia sẻ các cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm đắt tiền và nguồn lực dùng chung. Do vậy, nếu đại học vùng bị xóa bỏ, các trường đại học thành viên sẽ hoạt động độc lập, dẫn đến sự phân tán nguồn lực đã được hợp nhất. Điều này cũng đi ngược lại với chủ trương hiện nay là khuyến khích sắp xếp, sáp nhập thành các "đại học lớn" và nỗ lực nâng cao vị thế cạnh tranh quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam”, thầy Nghĩa phân tích.
Ghi nhận chia sẻ từ vị trí của “người trong cuộc”, lãnh đạo một trường đại học thành viên của đại học vùng cho rằng, việc đẩy mạnh thực hiện mô hình 3 nhà: “Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp” đã đặt ra yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học phải có mô hình quản trị tinh gọn, tự chủ, linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp với doanh nghiệp trong đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao và đổi mới sáng tạo.
Vị này nhấn mạnh, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp là: “xóa bỏ cấp trung gian, bảo đảm quản trị tinh gọn, thống nhất, hiệu quả”; và “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục gắn với kiểm tra, giám sát hiệu quả”.
Trước đó, tại Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới có đề cập đến việc đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt, hiệu lực và hiệu quả trong tổ chức triển khai. Chưa kể, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cũng nhấn mạnh đến yêu cầu tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học phát huy vai trò nòng cốt trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Hơn nữa, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân cũng đã xác định yêu cầu tạo lập môi trường thể chế minh bạch, thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.
“Có thể căn cứ vào các nghị quyết của Bộ Chính trị để đề xuất mô hình tổ chức phù hợp cho các đại học vùng trong giai đoạn hiện nay. Việc xây dựng mô hình tổ chức đại học vùng theo hướng tinh gọn, rõ chức năng, phân định cấp chiến lược và cấp tác nghiệp là thật sự cần thiết, phù hợp với chủ trương chung. Bởi, mô hình đại học vùng hiện nay được tổ chức theo hai cấp (đại học và các đơn vị thành viên, trực thuộc), trong đó một số lĩnh vực vẫn tồn tại quy trình hai tầng, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu “tinh gọn, thống nhất, hiệu quả” như tinh thần Nghị quyết số 71 đề ra. Trong khi đó, các trường đại học thành viên đã phát triển mạnh, có đầy đủ năng lực tự chủ trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế, đòi hỏi mô hình quản trị phù hợp để phát huy tối đa năng lực”, vị lãnh đạo trường chia sẻ.
Ngoài ra, theo vị này, cần củng cố mô hình quản trị theo hướng phân cấp, phân quyền rõ ràng, khuyến khích tự chủ và chịu trách nhiệm giải trình, nhất là trước yêu cầu thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu phối hợp thực hiện mô hình 3 nhà, cần thiết phải có mô hình quản trị thống nhất, tránh tồn tại nhiều mô hình bên trong đại học vùng, bảo đảm sự chủ động của từng trường trong triển khai chương trình đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và hợp tác phát triển.
Cần có nghị định hướng dẫn chung cho mô hình đại học vùng
Cùng với 2 đại học quốc gia, các đại học vùng ở Việt Nam đã khẳng định vị thế, vai trò trong hệ thống giáo dục đại học trong nước. Chuyên gia cho rằng, trước bối cảnh công cuộc sắp xếp cơ sở giáo dục với nhiều thay đổi, sau khi thống nhất mô hình quản trị bên trong đại học đa lĩnh vực thì cần thiết phải có hướng dẫn cho mô hình đại học vùng.
Bàn về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Nhĩ khẳng định việc phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của cấp đại học và của từng đơn vị thành viên. Khi đó, đại học vùng mới trở lại đúng bản chất là một thiết chế liên kết, tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược và các vấn đề mà từng trường riêng lẻ khó có thể đảm đương.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có nghị định hướng dẫn cụ thể cho mô hình đại học vùng. Vì vậy, theo thầy Nhĩ, cùng với việc tái cấu trúc tổ chức, Chính phủ cần sớm ban hành một nghị định quy định rõ sứ mệnh, chức năng, phân cấp, phân quyền giữa đại học vùng và đơn vị thành viên.

Ảnh minh họa: website Đại học Đà Nẵng
Cùng quan điểm, vị lãnh đạo trường cho rằng cần có nghị định hướng dẫn áp dụng thống nhất cho đại học vùng. Trong đó cần làm rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cấp đại học và cấp trực thuộc.
“Đại học vùng sau khi tái thiết phải nhằm thực hiện yêu cầu xóa bỏ cấp trung gian trong giáo dục đại học theo tinh thần Nghị quyết số 71; xác lập vai trò chiến lược, điều phối, bảo đảm chất lượng của đại học vùng; tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bên trong đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, hợp tác doanh nghiệp và chuyển đổi số theo tinh thần của các nghị quyết; đặc biệt là đảm bảo mô hình quản trị phù hợp tinh thần thống nhất, thông suốt, hiệu lực và hiệu quả trong tổ chức triển khai”, vị lãnh đạo trường chia sẻ.
Trong khi đó, giải pháp tối ưu mang tính chiến lược được thầy Nghĩa chia sẻ là phân rõ chức năng quản lý hành chính khỏi mô hình đại học vùng hiện tại để trao quyền tự chủ tối đa cho các trường thành viên đủ tiêu chuẩn, đồng thời tăng cường chức năng điều phối học thuật chiến lược để đảm bảo rằng đại học vùng vẫn giữ được vai trò là nòng cốt như mục tiêu Nghị quyết số 71 đặt ra.
Để thực hiện hóa tinh thần tinh gọn theo Nghị quyết số 71, cần áp dụng nguyên tắc bí thư đảng ủy làm giám đốc đại học vùng để hợp nhất quyền lực điều hành và chính trị vào một người đứng đầu, tăng cường trách nhiệm giải trình và giảm sự chồng chéo giữa các cơ quan ra quyết định. Chuyển đổi hội đồng đại học vùng thành hội đồng giám sát và tư vấn chiến lược đại học vùng.
Để ổn định tổ chức, thầy Nghĩa cũng cho rằng, cần phải có hướng dẫn chung về mô hình tổ chức, hoạt động của đại học vùng để bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong việc thực hiện các nghị quyết mới nhất của Đảng và Chính phủ. Hướng dẫn này phải nêu được nhiệm vụ, phân định rõ ràng và minh bạch quyền hạn giữa ba cấp: Bộ Giáo dục và Đào tạo (quản lý nhà nước vĩ mô); đại học vùng (điều phối chiến lược vùng); và trường thành viên (tự chủ vận hành).
“Việc phân quyền rõ ràng nhằm loại bỏ cấp trung gian (nếu có). Xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm giải trình thì quyền tự chủ các trường thành viên sẽ đảm bảo một cách triệt để, phù hợp với chính sách đẩy mạnh tự chủ. Ngoài ra, hướng dẫn cũng phải quy định rõ cơ chế tài chính chung, đặc biệt là quản lý và chia sẻ tài sản dùng chung trong hệ thống đại học vùng”, thầy Nghĩa chia sẻ.











