Siêu dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng: Tâm tư người dân làng Bắc Biên và bài toán 'an dân' nơi lõi di sản

Dự án đầu tư xây dựng Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng hứa hẹn sẽ mở ra tương lai đô thị hiện đại cho Thủ đô. Tuy nhiên, dự án cũng mang lại nỗi lo âu, thắp thỏm cho hàng ngàn cư dân làng Bắc Biên (phường Bồ Đề, TP Hà Nội) trước thông tin phải di dời, nhường đất để thực hiện dự án...

Ba lần vì nước nhường đất giữ làng

Ngồi dưới bóng mát của mái Đình Phúc Xá (Bắc Biên) cổ kính, lắng nghe tiếng chuông chùa Linh Sơn (Chùa Bắc Biên) ngân vang bên dòng sông Hồng cuộn đỏ phù sa, chúng tôi cảm nhận rõ một bầu không khí trĩu nặng tâm tư đang bao trùm lên cuộc trò chuyện của các bậc cao niên địa phương trước thông tin hàng ngàn hộ dân trong làng có nguy cơ phải di dời, bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng.

Làng Bắc Biên nằm trên địa bàn phường Bồ Đề, TP Hà Nội.

Làng Bắc Biên nằm trên địa bàn phường Bồ Đề, TP Hà Nội.

Để hiểu vì sao người dân làng Bắc Biên lại có một sự kết nối mang tính máu thịt, thiêng liêng với từng tấc đất bãi bồi ven sông đến thế, phải ngược dòng lịch sử về thuở bình minh khi đức vua Lý Thái Tổ chọn đất lập đô. Theo các tài liệu thư tịch cổ, văn bia, ngọc phả và nội dung cuốn sử làng còn lưu giữ trang trọng tại hậu cung, cội nguồn của làng Bắc Biên ngày nay chính là làng cổ An Xá. Trước năm 1010, ngôi làng này nằm ở phía Nam hồ Dâm Đàm (Hồ Tây).

Mùa thu năm Canh Tuất 1010, khi đức vua Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô, quyết định chuyển kinh thành từ vùng núi non Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long, triều đình cần một không gian rộng lớn để xây dựng tổ hợp hoàng cung, dựng các cung điện, lăng tẩm. Đứng trước đại cuộc của quốc gia, tổ tiên cư dân An Xá đã đồng lòng tự nguyện nhường lại toàn bộ nhà cửa, ruộng vườn hương hỏa, đất đai trù phú ở trung tâm cho triều đình. Họ cùng nhau gồng gánh ra vùng bãi bồi hoang vu ngoài rìa sông Hồng để khai hoang, lập nên một ngôi làng An Xá mới ven sông.

Đình Bắc Biên tên chữ Phúc Xá Tự, có ít nhất từ thế kỷ 17, là ngôi chùa của làng Bắc Biên, nằm ở tả ngạn sông Hồng, cách cầu Long Biên khoảng 1km.

Đình Bắc Biên tên chữ Phúc Xá Tự, có ít nhất từ thế kỷ 17, là ngôi chùa của làng Bắc Biên, nằm ở tả ngạn sông Hồng, cách cầu Long Biên khoảng 1km.

Sống ngoài đê, đồng nghĩa với việc phải đối mặt với sự giận dữ của thiên tai, thủy triều và nạn lở đất liên miên qua các thế kỷ. Qua nhiều đời, dòng chảy sông Hồng thay đổi, cuốn trôi nhiều dải đất bãi bồi. Trong một lần đi kinh lý, chứng kiến cảnh tượng dân làng An Xá kiên cường chống chọi với lũ lụt, nhà cửa dựng tạm linh hoạt, dời đổi tùy theo con nước lên xuống, đức vua đã ban khen và đổi tên làng thành Cơ Xá. "Cơ Xá" mang ý nghĩa là sự cơ động, linh hoạt, con người chung sống một cách hòa hợp, ứng biến khôn khéo trước sức mạnh của thiên nhiên.

Đến thời nhà Nguyễn, để cầu mong phước lành vững bền cho dải đất ven sông, tên làng tiếp tục được đổi thành Phúc Xá. Trải qua các trận đại hồng thủy, phần đất bãi bờ Nam (khu vực Phúc Xá, Ba Đình ngày nay) bị sạt lở nghiêm trọng, đại bộ phận cư dân đã dịch chuyển, vượt sông sang bờ tả ngạn (bờ Bắc sông Hồng) để lập làng, xây dựng lại đình chùa và đổi tên thành làng Bắc Biên (nghĩa là bờ cõi phía Bắc) nhằm khẳng định chủ quyền cương vực ổn định lâu dài. Đây cũng chính là quê hương bản quán linh thiêng của vị anh hùng dân tộc – Thái úy Việt quốc công Lý Thường Kiệt, người viết nên bài thơ thần Nam quốc sơn hà.

Ngoài việc thờ Phật, đình Bắc Biên hiện còn thờ thái úy triều Lý là Lý Thường Kiệt.

Ngoài việc thờ Phật, đình Bắc Biên hiện còn thờ thái úy triều Lý là Lý Thường Kiệt.

Tiếp chúng tôi ở gian tả mạc của đình Phúc Xá, cụ Chu Văn Uông (sinh năm 1946), vị bô lão cao niên với ánh mắt hằn in vết thời gian của người con vùng sông nước ngoài đê, xúc động khi nhắc về lịch sử thăng trầm của làng.

“Bà con làng Bắc Biên chúng tôi từ xưa đến nay có một đặc tính kiên cường là bám sông giữ đất. Tính cả chiều dài lịch sử, làng này đã ba lần hy sinh nhà cửa, tài sản hương hỏa vì đại cuộc, vì sự bình an của Thủ đô. Lần thứ nhất là nhường đất lập đô thời vua Lý để ra vùng bãi bồi này.

Lần thứ hai là chấp nhận sống cảnh ngoài đê, chịu thiên tai lũ lụt quanh năm để làm hành lang an toàn đô thị cho kinh thành nội đô. Lần thứ ba là thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, làng Bắc Biên chính là mật khu an toàn, là bến đưa toàn bộ Trung đoàn Thủ đô rút lui qua sông Hồng an toàn sau 60 ngày đêm khói lửa.

Đình Phúc Xá còn là nơi lưu giữ những di vật mang tính chất lịch sử như: 2 tấm bia dựng vào thời nguyễn ghi chép lại công việc trùng tu di tích, 8 câu đối ca ngợi chiến công của Lý Thường Kiệt, 7 đạo sắc phong thời Nguyễn.

Đình Phúc Xá còn là nơi lưu giữ những di vật mang tính chất lịch sử như: 2 tấm bia dựng vào thời nguyễn ghi chép lại công việc trùng tu di tích, 8 câu đối ca ngợi chiến công của Lý Thường Kiệt, 7 đạo sắc phong thời Nguyễn.

Sau đêm rút lui lịch sử ấy, thực dân Pháp phát hiện ra làng che giấu bộ đội, chúng đã điên cuồng dội bom, đốt phá sạch sành sanh. Khi bà con tản cư quay về, làng không còn nổi một nóc nhà, không còn một bóng cây xanh, chỉ còn là một bãi hoang tàn xám xịt. Thế mà bằng hai bàn tay trắng, bằng dòng phù sa sông Hồng nuôi dưỡng, bà con lại cào đất dựng lều, dựng lại từng nếp nhà, khôi phục lại ngôi làng sầm uất với quy mô 1.000 hộ dân như ngày hôm nay.

Lịch sử của chúng tôi gắn chặt với dòng sông, giờ có thông tin quy hoạch sẽ giải tỏa, đưa dân đi nơi khác, chúng tôi lo lắng lắm. Việc di dời làng có thể sẽ làm tan rã toàn bộ cấu trúc dòng tộc, cắt đứt sợi dây liên kết cộng đồng bền chặt. Chúng tôi biết ăn nói làm sao với tổ tiên? Nếu đưa dân đi nơi khác, ai sẽ là người hằng ngày thắp nén hương dưới mái đình thờ ngài Lý Thường Kiệt, ai gìn giữ hồn cốt nghìn năm của cha ông?” - cụ Chu Văn Uông tâm tư.

Đình Phúc Xá mang lối kiến trúc giống như mọi ngôi đình làng thường thấy khác tại địa phương.

Đình Phúc Xá mang lối kiến trúc giống như mọi ngôi đình làng thường thấy khác tại địa phương.

Bảo vật Quốc gia độc bản và bản sắc nghi lễ vùng bãi bồi

Để chứng minh một cách đanh thép rằng làng Bắc Biên không phải là vùng bãi hoang tự phát thông thường, mà là một vùng lõi di sản văn hóa có giá trị độc bản của Hà Nội, cụ Nguyễn Văn Chính (sinh năm 1951) – một chuyên gia am tường về Hán Nôm và văn hóa cổ của địa phương – đã dẫn phóng viên sang chiêm bái chùa Bắc Biên.

Đầu năm 2026, chùa Bắc Biên đón nhận niềm tự hào lớn khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03/02/2026 công nhận chiếc Chuông đồng cổ An Xá là Bảo vật Quốc gia. Cụ Nguyễn Văn Chính trang trọng chỉ vào quả chuông, giải nghĩa chi tiết độc bản của báu vật này:

Bảo vật Quốc gia chuông đồng cổ An Xá tại chùa Linh Sơn (Chùa Bắc Biên).

Bảo vật Quốc gia chuông đồng cổ An Xá tại chùa Linh Sơn (Chùa Bắc Biên).

“Hầu hết các quả chuông cổ tại Việt Nam chỉ khắc bài minh tự, niên đại hoặc danh tính người công đức ở bề mặt bên ngoài của thân chuông. Nhưng đối với chuông cổ An Xá, hệ thống chữ cổ lại được đúc khắc, chạm chìm sâu một cách tinh xảo ở cả mặt ngoài lẫn toàn bộ không gian bên trong lòng quả chuông.

Toàn bộ hệ thống bài văn minh tự ghi lại lịch sử lập làng, đặc quyền đất bãi bồi, và đặc biệt là nội dung 9 đạo sắc phong của các triều đại vua chúa phong kiến đều được đúc khắc trọn vẹn trong lòng chuông. Quả chuông này chính là một 'cuốn sử biên niên bằng đồng' vô giá, là bằng chứng pháp lý tối cao từ thời phong kiến thừa nhận chủ quyền sử dụng đất bãi bồi, cương vực cư ngụ hợp pháp, ổn định lâu đời của người dân Phúc Xá xưa”.

Không chỉ có chuông cổ, cụ Nguyễn Văn Chính còn giới thiệu cuốn Hương ước cổ năm Tân Hợi 1911 của làng Phúc Xá (được nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Lâu sưu tập lại ngày 01/10/1986). Bản hương ước là minh chứng cho lối sống văn minh, tính tự quản rất cao của làng xã từ nếp sinh hoạt xóm ngõ cho đến lề lối tổ chức các tuần tiết tế lễ, hội làng truyền thống.

Cụ Nguyễn Văn Chính (sinh năm 1951) – một chuyên gia am tường về Hán Nôm và văn hóa cổ của địa phương.

Cụ Nguyễn Văn Chính (sinh năm 1951) – một chuyên gia am tường về Hán Nôm và văn hóa cổ của địa phương.

Cụ Chính lập luận một cách sâu sắc về mối quan hệ giữa di sản và con người bản địa: "Giá trị của một Bảo vật Quốc gia hay một cụm di tích cấp Quốc gia chỉ được phát huy tối đa khi nó tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ với cộng đồng dân cư bản địa – những người hằng ngày trực tiếp trông nom, thực hành tín ngưỡng và lưu truyền hương ước. Nếu làng không còn, các di tích sẽ trở thành những khối kiến trúc nguội lạnh, vô hồn, mất đi cái gốc con người tạo nên giá trị lịch sử ngàn năm".

Sức sống ngàn năm của "làng cổ" bãi bồi còn được kết tinh trọn vẹn trong lễ hội truyền thống diễn ra từ mùng 6 đến mùng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm, tiêu biểu là nghi thức rước nước tế thánh trên sông Hồng và rước văn độc đáo. Sống nương vào dòng phù sa, người dân Bắc Biên tôn kính gọi sông Hồng là dòng sông mẹ, nơi nuôi nấng và bảo bọc bao thế hệ dân làng. Nghi lễ rước nước là nghi thức tối linh thiêng nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng và mùa màng bội thu cho dải đất phù sa ngoài đê.

Hội làng Bắc Biên là một trong những lễ hội lớn được tổ chức tại TP Hà Nội vào ngày 6 tháng 3 âm lịch hằng năm.

Hội làng Bắc Biên là một trong những lễ hội lớn được tổ chức tại TP Hà Nội vào ngày 6 tháng 3 âm lịch hằng năm.

Từ sáng sớm ngày chính hội, đoàn rước gồm hàng trăm người trong trang phục truyền thống rực rỡ khởi hành từ sân đình tiến ra bến sông, rước kiệu chóe nước do các nam thanh nữ tú đức độ trong làng khênh trọng thể. Tại bến sông, một chiếc thuyền lớn được trang hoàng cờ hoa lộng lẫy đưa ban tế lễ cùng các cụ bô lão ra giữa dòng sông Hồng múc dòng nước trong lành nhất đổ vào chóe thờ, rước trở lại đình và chùa làng phục vụ đại lễ.

Song song với rước nước, nghi thức rước văn tế Thái úy Lý Thường Kiệt cũng là điểm nhấn đậm đặc giá trị nhân văn của làng. Bài văn tế viết bằng chữ Hán Nôm ca ngợi công đức cao dày của vị anh hùng dân tộc được đặt trang trọng trên kiệu long đình, đi kèm là các đội nghi thức: Đội bát âm cử nhạc réo rắt, đội cầm cờ bát quái, hàng tàn, lọng tía rợp một góc trời ven bờ sông bãi. Nét đặc sắc ở Bắc Biên là sự hòa quyện tuyệt vời giữa nghi lễ tâm linh và tính tự quản văn minh, trở thành chất keo kết dính bền chặt tâm thức của hàng ngàn người dân qua bao thăng trầm thời gian.

Làng Bắc Biên nằm ngoài đê, cách cầu Long Biên khoảng 1km với hơn 1.000 hộ dân.

Làng Bắc Biên nằm ngoài đê, cách cầu Long Biên khoảng 1km với hơn 1.000 hộ dân.

Minh bạch quy hoạch và bài toán cho tương lai

Nếu như hai vị bô lão Chu Văn Uông và Nguyễn Văn Chính mang đến góc nhìn sâu thẳm về lịch sử, văn hóa và tâm linh, thì anh Nguyễn Kim Dũng (sinh năm 1989) – đại diện cho thế hệ trẻ đang sinh sống trực tiếp tại làng Bắc Biên – lại mang đến cuộc trò chuyện tiếng nói thực tế, thẳng thắn về tính minh bạch của dự án dưới góc độ quy hoạch phát triển hiện đại.

Với tư duy cởi mở và tiến bộ của người trẻ, anh Dũng chia sẻ một cách dứt khoát về quan điểm của thế hệ thanh niên trong làng trước làn sóng đô thị hóa: “Thế hệ trẻ chúng tôi hoàn toàn không cổ hủ, chúng tôi rất hoan nghênh và ủng hộ chủ trương quy hoạch, mở mang trục cảnh quan để hiện đại hóa Thủ đô của Nhà nước. Chúng tôi hiểu rằng việc đưa sông Hồng trở thành trung tâm không gian xanh là xu thế tất yếu.

Làng là nơi tọa lạc của cụm di tích đình, đền và chùa Phúc Xá, nổi bật là nơi thờ danh tướng Lý Thường Kiệt và Đền Mẫu thoải.

Làng là nơi tọa lạc của cụm di tích đình, đền và chùa Phúc Xá, nổi bật là nơi thờ danh tướng Lý Thường Kiệt và Đền Mẫu thoải.

Vì vậy, chính quyền cần phải công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến dự án một cách kịp thời để người dân biết rõ. Cùng với đó cần tổ chức các buổi họp dân, đối thoại, trực tiếp với người dân, chỉ rõ ranh giới mốc giới nào thuộc diện chỉnh trang, khu vực nào thuộc diện bảo tồn.

Tránh để việc người dân phải sống trong cảnh thấp thỏm, hoang mang, bởi những tin đồn thất thiệt về giải phóng mặt bằng, xóa làng. Khi thông tin quy hoạch được minh bạch hóa một cách rõ ràng trên các phương tiện đại chúng, lòng dân tự khắc sẽ an yên và tạo ra sự đồng thuận tuyệt đối trong quá trình triển khai dự án”.

Tiếng nói của anh Nguyễn Kim Dũng đã phản ánh một yêu cầu vô cùng chính đáng về trách nhiệm giải trình thông tin của các cơ quan quản lý đô thị hiện đại, tránh tạo ra những khoảng trống dư luận không đáng có xung quanh các siêu dự án.

Chùa Bắc Biên tọa lạc trên một khu đất cao, phía trước có một ao nước rộng thả sen.

Chùa Bắc Biên tọa lạc trên một khu đất cao, phía trước có một ao nước rộng thả sen.

Thực tế, theo thông tin từ UBND thành phố Hà Nội, Dự án đầu tư xây dựng Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng có quy mô khoảng 11.418ha, đi qua 16 xã, phường (giảm bớt so với quy hoạch 19 xã, phường), đây là một trong 9 trục động lực chiến lược của Thủ đô với tầm nhìn 100 năm.

Dù phạm vi ảnh hưởng của toàn dự án tác động trực tiếp đến khoảng 70.474 hộ dân (247.431 nhân khẩu) nằm trong hành lang thoát lũ ven sông, phương án kỹ thuật của UBND Thành phố nêu rõ: Việc rà soát, giải phóng mặt bằng sẽ được thực hiện theo từng giai đoạn, dựa trên điều kiện thực tế của từng khu vực để hạn chế tối đa ảnh hưởng đến đời sống và sinh kế của người dân.

Cụm Di tích Quốc gia Đình Phúc Xá - Chùa Linh Sơn tại làng Bắc Biên.

Cụm Di tích Quốc gia Đình Phúc Xá - Chùa Linh Sơn tại làng Bắc Biên.

Mục tiêu cốt lõi của UBND Thành phố là chuyển dịch mô hình từ “đô thị quay lưng ra sông” sang “đô thị hướng ra sông”. Do đó, lộ trình thực hiện kéo dài từ năm 2026 đến năm 2038 hoàn toàn không dọn đường để san phẳng làng, mà trái lại, hướng tới việc bảo vệ, tôn tạo, nâng cao chất lượng môi trường sống của người dân và biến làng thành một "viên ngọc di sản sống" hài hòa bên dòng sông Hồng hiền hòa.

Người dân và các cụ bô lão làng Bắc Biên khẳng định họ luôn đặt lợi ích tối cao của quốc gia lên hàng đầu, đồng thuận và hoàn toàn ủng hộ các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước trong việc lập quy hoạch, đầu tư hạ tầng nhằm hiện đại hóa Thủ đô, đưa dòng sông Hồng trở thành trung tâm phát triển sinh thái biểu tượng. Người dân không hề có tư tưởng chây ì hay chống đối, điều họ khát khao nhất chính là sự công khai, minh bạch thông tin và sự thấu lý đạt lý từ các cơ quan quản lý.

Mục tiêu cốt lõi của UBND Thành phố là chuyển dịch mô hình từ “đô thị quay lưng ra sông” sang “đô thị hướng ra sông”.

Mục tiêu cốt lõi của UBND Thành phố là chuyển dịch mô hình từ “đô thị quay lưng ra sông” sang “đô thị hướng ra sông”.

Tâm nguyện và mong mỏi lớn nhất của các thế hệ cư dân làng Bắc Biên lúc này là dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng cần đưa ra các cơ chế pháp lý cam kết cụ thể về việc tôn trọng, bảo tồn nguyên trạng cấu trúc không gian hình thể làng cổ.

Bên cạnh đó, không gian lõi di sản gồm cụm Di tích Quốc gia Đình Phúc Xá - Chùa Linh Sơn cùng Bảo vật Quốc gia Chuông đồng cổ An Xá cần được khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt, đầu tư bài bản để trở thành hạt nhân phát triển du lịch văn hóa tâm linh.

Giải pháp quy hoạch hài hòa này sẽ giúp bảo vệ trọn vẹn giá trị lịch sử nghìn năm, tái ổn định cuộc sống và giữ vững kế sinh nhai lâu dài cho người dân, đưa di sản ngàn năm hòa quyện một cách thấu tình đạt lý vào dòng chảy đô thị văn minh, hiện đại.

Siêu dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng: Tâm tư người dân làng Bắc Biên và bài toán 'an dân' nơi lõi di sản

Siêu dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng: Tâm tư người dân làng Bắc Biên và bài toán 'an dân' nơi lõi di sản.

Nguồn GĐ&XH: https://giadinh.suckhoedoisong.vn/sieu-du-an-truc-dai-lo-canh-quan-song-hong-tam-tu-nguoi-dan-lang-bac-bien-va-bai-toan-an-dan-noi-loi-di-san-172260522153820464.htm