Tầm nhìn mới từ kinh tế biển đến không gian phát triển quốc gia
Xây dựng nghị quyết mới không chỉ kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được mà còn phải tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn mới.
Sau hơn 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế biển đã có nhiều chuyển biến tích cực, đóng góp ngày càng quan trọng vào tăng trưởng và hội nhập của đất nước. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của phát triển và bối cảnh quốc tế nhiều biến động, việc hoàn thiện thể chế để khai thác hiệu quả tiềm năng biển đang trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36 – NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phải khẩn trương tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW và xây dựng nghị quyết mới, không chỉ kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được mà còn phải tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn mới.Đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ, cần đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển biển trong giai đoạn mới; trọng tâm là phải chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh. Biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên hay phát triển một số ngành kinh tế mà phải được xác định là không gian phát triển chiến lược của quốc gia, là nơi hội tụ các lợi ích phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế.Định hướng này không chỉ mở rộng cách tiếp cận về biển mà còn đặt ra yêu cầu phải rà soát, hoàn thiện toàn diện hệ thống thể chế, chính sách phát triển biển trong giai đoạn mới.

Nhiều ngành kinh tế biển như cảng biển, logistics, du lịch biển, nuôi biển công nghệ cao hay năng lượng tái tạo ngoài khơi đã có bước phát triển đáng ghi nhận. Ảnh minh họa: Vũ Sinh - TTXVN
*Những điểm nghẽn cản trở không gian phát triển biển
Thực tế cho thấy, sau khi triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW và thực thi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, nhiều ngành kinh tế biển như cảng biển, logistics, du lịch biển, nuôi biển công nghệ cao hay năng lượng tái tạo ngoài khơi đã có bước phát triển đáng ghi nhận.
Theo Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, nhận thức của cả hệ thống chính trị về vị trí, vai trò của biển được nâng lên rõ rệt; hệ thống pháp luật về biển từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế biển.
Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của quốc gia biển. Hệ thống thể chế, chính sách liên quan đến biển còn phân tán; quản lý không gian biển còn chồng chéo; cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng chưa thực sự hiệu quả; nguồn lực đầu tư cho hạ tầng biển còn hạn chế. Trong khi đó, quá trình phát triển đang xuất hiện nhiều mâu thuẫn về sử dụng không gian biển giữa các ngành kinh tế.
Những thách thức mới như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường biển, suy giảm hệ sinh thái, cùng xu hướng cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia cũng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới cách tiếp cận trong quản lý và phát triển biển.
Theo ông Phạm Ngọc Sơn, nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, điểm nghẽn lớn hiện nay nằm ở tư duy quản lý biển theo ngành. Trước đây, mỗi lĩnh vực xây dựng quy hoạch và phát triển theo mục tiêu riêng, giúp phát huy lợi thế từng ngành nhưng cũng dẫn tới tình trạng chồng lấn không gian và xung đột lợi ích.
Ông Phạm Ngọc Sơn cho rằng, nếu như trước đây mục tiêu chủ yếu là kiểm soát khai thác tài nguyên và hạn chế xung đột thì hiện nay yêu cầu lớn hơn là phải biến biển thành không gian phát triển. Điều đó đòi hỏi luật pháp và chính sách không chỉ làm nhiệm vụ quản lý mà còn phải tạo động lực cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và khai thác hiệu quả các nguồn lực biển.

Quy hoạch không gian biển cần hướng tới các vùng phát triển kinh tế tổng hợp và các chuỗi giá trị liên kết. Ảnh minh họa: Vũ Sinh - TTXVN
*Hoàn thiện thể chế để khơi thông nguồn lực biển
Từ thực tiễn đó, nhiều chuyên gia cho rằng việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cần được xem là cơ hội để hiện thực hóa tư duy phát triển biển mới mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra.
Theo ông Phạm Ngọc Sơn, trọng tâm của lần sửa luật này là chuyển mạnh từ tư duy “quản lý biển” sang “quản trị biển”. Biển cần được nhìn nhận như một thể thống nhất, nơi các hoạt động vận tải, khai thác thủy sản, bảo tồn hệ sinh thái, phát triển năng lượng tái tạo hay logistics có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy, quy hoạch không gian biển cần hướng tới các vùng phát triển kinh tế tổng hợp và các chuỗi giá trị liên kết thay vì chia cắt theo từng ngành riêng lẻ.
Ở góc độ hoàn thiện thể chế, Trung tướng Trần Đức Thuận cho rằng cần xây dựng cơ chế quản lý tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia theo hướng liên ngành, liên vùng; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và yêu cầu quốc phòng, an ninh. Các quy hoạch phát triển kinh tế biển phải được tích hợp đồng bộ trong quy hoạch không gian biển quốc gia nhằm tránh xung đột lợi ích và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật cần tạo hành lang thuận lợi cho các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, kinh tế tuần hoàn biển, kinh tế carbon thấp, nuôi biển công nghiệp, logistics hiện đại hay khai thác dữ liệu biển. Đây được xem là những động lực tăng trưởng mới nhưng vẫn còn thiếu các cơ chế đủ mạnh để phát triển.
Theo ông Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương), phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới đòi hỏi phải triển khai đồng bộ các giải pháp từ đổi mới tư duy quản trị biển, hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực đến đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Cùng với việc phát triển các doanh nghiệp biển có sức cạnh tranh quốc tế cần đầu tư đồng bộ hệ thống cảng biển, logistics, trung tâm kinh tế biển, khu kinh tế ven biển và đô thị biển hiện đại. Quá trình phát triển phải gắn với bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao đời sống người dân ven biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển đảo.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cũng cho rằng yêu cầu hoàn thiện thể chế chính sách phát triển kinh tế biển bền vững hiện nay là hết sức cấp thiết. Theo đó, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản trị biển tổng hợp, thống nhất, hiện đại; từ khai thác tài nguyên theo chiều rộng sang sử dụng hiệu quả không gian và tài nguyên biển theo chiều sâu; từ phát triển dựa chủ yếu vào lợi thế tự nhiên sang phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn.
Dự kiến dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội vào Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026). Kỳ vọng lớn nhất không chỉ là hoàn thiện công cụ quản lý nhà nước mà còn tạo lập một khuôn khổ thể chế mới đủ sức khơi thông nguồn lực, thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới và hiện thực hóa mục tiêu đưa biển trở thành không gian phát triển biển quốc gia mạnh trong thời gian tới.











