Tạo sinh kế bền vững
Nhiều năm qua, câu chuyện bảo tồn đa dạng sinh học thường được nhìn dưới góc độ bảo vệ rừng, mở rộng các khu bảo tồn và cấm khai thác tài nguyên.

Làng du lịch sinh thái Pơ mu (xã Hùng Sơn) đã đưa nếp sống của đồng bào Cơ Tu thành các sản phẩm du lịch độc đáo. Người dân trở thành những “đại sứ” du lịch đặc biệt. Ảnh: VĂN HUỲNH
Thực tế cho thấy sẽ không thể bảo tồn thiên nhiên một cách bền vững nếu người dân sống quanh rừng, ven biển hay khu sinh thái vẫn phải chật vật mưu sinh. Khi cái ăn, cái mặc là áp lực sinh tồn, việc yêu cầu họ từ bỏ khai thác tài nguyên là điều bất khả thi.
“Người gác cửa” thiên nhiên
Đà Nẵng đang đứng trước một bài toán lớn như vậy khi người dân nhiều nơi sống dựa vào rừng, vào biển, vào nông nghiệp và các sản vật bản địa. Chính vì vậy, muốn giữ được đa dạng sinh học, điều quan trọng nhất không chỉ là bảo tồn bằng mệnh lệnh hành chính mà phải tạo ra sinh kế bền vững để người dân có thể sống được nhờ việc giữ gìn thiên nhiên thay vì khai thác cạn kiệt tài nguyên.
Đây cũng là xu hướng phát triển mà nhiều tổ chức nghiên cứu, các cơ quan khoa học ngay tại Đà Nẵng như Trung tâm Công nghệ Sinh học Đà Nẵng hay Khoa Sinh - Nông nghiệp - Môi trường (Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng) đều khuyến nghị. Theo đó, tạo sinh kế bền vững chính là cách chuyển đổi mối quan hệ giữa con người và tự nhiên từ “khai thác” sang “cùng tồn tại”. Ví dụ điển hình cho việc này là vườn quốc gia Sông Thanh đang có trên dưới 200 người tham gia công tác bảo vệ rừng. Nhiều người trong số họ vốn xuất thân là những người phá rừng giữa đại ngàn Trường Sơn. Khi người dân nhận ra rằng giữ rừng, giữ biển hay bảo tồn sinh cảnh có thể mang lại thu nhập lâu dài, họ sẽ trở thành lực lượng bảo vệ thiên nhiên hiệu quả nhất.
Một trong những hướng đi nhiều tiềm năng đối với Đà Nẵng là phát triển du lịch sinh thái cộng đồng. Đà Nẵng không chỉ có biển mà còn có vùng núi, làng quê và hệ sinh thái đặc sắc. Những nơi như vườn quốc gia Sông Thanh, vùng rừng sâm Ngọc Linh, bán đảo Sơn Trà, vùng phía tây Hòa Bắc, hay làng rau Trà Quế... đều có thể phát triển mô hình du lịch gắn với trải nghiệm thiên nhiên, văn hóa bản địa và nông nghiệp sinh thái.
Ở mô hình này, người dân không còn là người “bán tài nguyên” mà trở thành người cung cấp dịch vụ du lịch, hướng dẫn trải nghiệm, cung cấp sản phẩm địa phương, các hoạt động văn hóa truyền thống. Thu nhập đến từ việc bảo vệ cảnh quan thay vì phá vỡ cảnh quan. Càng giữ được rừng xanh, suối sạch, đa dạng sinh học phong phú thì giá trị du lịch càng tăng. Điển hình cho điều này có thể thấy khi các khu du lịch như: Cổng trời Đông Giang, Núi Thần Tài, các khu du lịch ở Hòa Bắc… đã đưa nếp sống của đồng bào Cơ Tu thành các sản phẩm du lịch độc đáo. Người dân trở thành những “đại sứ” du lịch đặc biệt.
Bên cạnh đó, Đà Nẵng có thể thúc đẩy các sản phẩm bản địa gắn với “nhãn xanh” và tiêu chuẩn sinh thái. Những sản phẩm nông nghiệp sạch, dược liệu như sâm Ngọc Linh, thủy sản thân thiện môi trường nếu được xây dựng thương hiệu tốt sẽ tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn nhiều so với sản xuất nhỏ lẻ truyền thống. Xu hướng tiêu dùng xanh đang mở ra cơ hội rất lớn. Người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm hữu cơ, sản phẩm giảm phát thải hoặc có nguồn gốc bền vững. Đây chính là động lực để người dân thay đổi phương thức sản xuất.
Hướng đi mới cho kinh tế xanh
Một hướng đi đặc biệt quan trọng là chi trả dịch vụ môi trường rừng và thị trường tín chỉ carbon. Đây được xem là cơ chế giúp biến “lá phổi xanh” thành tiền theo cách bền vững nhất. Thay vì khai thác gỗ hay phá rừng lấy đất sản xuất, người dân có thể nhận được lợi ích kinh tế từ chính việc bảo vệ rừng.
Năm 2024, Ngân hàng Thế giới (WB) đã chuyển khoản tiền trị giá 51,5 triệu USD (khoảng 1.200 tỉ đồng) cho Việt Nam sau khi mua 10,3 triệu tín chỉ carbon rừng. Các khoản tiền này đã được chi trả trực tiếp cho người dân các địa phương, như: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế... để họ tham gia trồng và bảo vệ rừng.
Những tín hiệu vui này có thể nằm trong tay người dân vùng rừng núi ở Đà Nẵng vì thực tế ở Quảng Nam trước đây đã bắt tay triển khai đề án liên quan đến bán tín chỉ carbon và chi trả dịch vụ môi trường rừng sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép tỉnh thí điểm. Sau khi sáp nhập, đã đến lúc thành phố cần khởi động lại đề án này.
Ngoài ra, Đà Nẵng cũng cần tính tới các chương trình hỗ trợ chuyển đổi nghề ở những khu vực chịu áp lực khai thác tài nguyên. Không thể yêu cầu ngư dân giảm khai thác ven bờ nếu họ không có nghề thay thế. Không thể yêu cầu người dân miền núi ngừng phụ thuộc vào rừng nếu thiếu sinh kế ổn định. Nhà nước cần đóng vai trò “bà đỡ” trong giai đoạn chuyển đổi này thông qua đào tạo nghề, hỗ trợ vốn, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng chuỗi tiêu thụ và kết nối thị trường. Quan trọng hơn, các chính sách cần giúp người dân nhìn thấy lợi ích lâu dài của mô hình phát triển xanh thay vì chỉ những lợi ích ngắn hạn trước mắt.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/tao-sinh-ke-ben-vung-3337832.html











