Thúc đẩy chuyển đổi số và công nghệ thông minh trong nuôi trồng thủy sản
Ngày 9/6, trong khuôn khổ Hội chợ Triển lãm Quốc tế Công nghệ Nông nghiệp và Môi trường (VietAgros 2026), hội thảo 'Chuyển đổi số và công nghệ thông minh trong nuôi trồng thủy sản' chính thức diễn ra.

Bà Quách Thị Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ, thông tin về định hướng ngành nuôi trồng thủy sản của thành phố. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Hội thảo thu hút sự tham gia của đông đảo các cơ quan quản lý, nhà khoa học, chuyên gia đến từ các viện, trường, cùng các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân nuôi trồng thủy sản tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Thủy sản hiện là một trong những lĩnh vực sản xuất chiến lược, tạo ra giá trị xuất khẩu lớn và đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân. Tuy nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản tại Cần Thơ nói riêng và cả nước nói chung đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn từ biến đổi khí hậu, dịch bệnh phức tạp, biến động bất lợi của giá cả đầu ra và áp lực tăng chi phí đầu vào.
Trước bối cảnh đó, bà Quách Thị Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ nhấn mạnh, địa phương đã có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ thông qua việc thay đổi tư duy từ "sản xuất nông nghiệp" thuần túy sang "kinh tế nông nghiệp". Trong số đó, thành phố lấy việc nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và bảo vệ môi trường làm trọng tâm.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số theo chỉ đạo của Thành ủy và UBND thành phố, ngành nông nghiệp Cần Thơ xác định tập trung khai thác sâu vào hai mảng dư địa còn rất lớn là thủy sản và rau màu. Ngành nông nghiệp thành phố đang đẩy mạnh sản xuất xanh gắn liền với chuyển đổi số, áp dụng công nghệ thông minh để vừa thích ứng với biến đổi khí hậu, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế.

Hệ thống quạt nước trong ao nuôi tôm. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Thời gian qua, thành phố Cần Thơ đã triển khai nhiều mô hình thực tiễn đạt hiệu quả cao như áp dụng hố thu chất thải kết hợp hầm biogas để bảo vệ môi trường. Vận hành hệ thống kiểm soát chất lượng nước tự động, phối hợp với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học nhằm nuôi xanh, tiết kiệm nước, vật tư hóa chất và cam kết sử dụng nguồn thức ăn an toàn.
Các giải pháp này được tích hợp thành một quy trình khép kín từ kiểm soát đầu vào, quản lý nguồn nước đến chăm sóc sức khỏe thủy sản. Về lâu dài, Cần Thơ hướng tới xây dựng tính nhân văn trong chăm sóc vật nuôi nhằm đáp ứng các tiêu chí ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu tiên tiến.
Trước thách thức của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, Cần Thơ quán triệt quan điểm phát triển "thích ứng, thuận thiên chứ không đối kháng". Bên cạnh các đối tượng chủ lực như tôm thẻ và tôm sú, thành phố đã phát triển song hành các đối tượng có giá trị kinh tế cao khác như cua biển, cá biển, đồng thời thử nghiệm đan xen một số loài rong biển. Mô hình đa dạng hóa sinh học này vừa giúp thích ứng tốt với môi trường nước mặn, vừa hạn chế tối đa rủi ro dịch bệnh trong cùng một không gian nuôi trồng.
Trong thời gian tới, Cần Thơ sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác xoay quanh ba chuyên đề cốt lõi ứng dụng công nghệ thông minh và chuyển đổi số để thích ứng biến đổi khí hậu; kiểm soát dịch bệnh và tối ưu hóa dinh dưỡng; nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng để đưa các mặt hàng thủy sản trở thành sản phẩm OCOP, nâng tầm thương hiệu địa phương.
Tại hội thảo, PGS.TS Lê Quốc Việt, Trường Thủy sản (Đại học Cần Thơ) nhận định, trong bối cảnh toàn cầu hóa cùng những thách thức lớn từ biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và áp lực an toàn thực phẩm, việc ứng dụng công nghệ tuần hoàn trong nuôi trồng thủy sản đã trở thành một xu thế phát triển bền vững tất yếu. Mô hình này mang lại nhiều lợi ích cốt lõi nhờ khả năng thiết lập hệ thống nuôi khép kín, giúp giảm thiểu tối đa lượng chất thải xả ra môi trường, ngăn ngừa triệt để các mầm bệnh nguy hiểm xâm nhập từ bên ngoài và loại bỏ tình trạng lây nhiễm chéo giữa các hộ nuôi. Đồng thời, do không sử dụng hóa chất hay kháng sinh, công nghệ này giúp tạo ra nguồn sản phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và hướng tới các chứng nhận hữu cơ, đáp ứng hoàn hảo định hướng của Chính phủ về giảm phát thải carbon vào các năm 2030 và 2050.

Hệ thống đo oxy trong nước nuôi tôm. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Cùng với giải pháp sinh học, các giải pháp công nghệ thiết bị phụ trợ cũng đóng vai trò quan trọng. Ông Trương Anh Hoàng, đại diện Công ty TNHH Kỹ thuật Năng lượng (TP.HCM) đã giới thiệu các dòng sản phẩm chiến lược như mô-tơ, quạt và hộp giảm tốc chuyên dụng cho ngành nuôi tôm được nhập khẩu trực tiếp từ Ấn Độ. Giải pháp công nghệ mới này sở hữu nhiều cải tiến vượt trội nhờ thiết kế động cơ tiên tiến, giúp tiết kiệm điện năng đáng kể, vận hành bền bỉ và có khả năng chống chịu tốt trong môi trường đặc thù của ao nuôi.
Ở góc độ phát triển bền vững, ông Johan van den Ban, Tổng giám đốc De Heus Việt Nam và châu Á (đơn vị đang vận hành 21 nhà máy thức ăn thủy sản, gia súc tại Việt Nam) cho biết, doanh nghiệp đang phối hợp với Đại học Cần Thơ thực hiện dự án chiến lược tại Cà Mau để xây dựng mô hình nuôi tôm bền vững nhằm giải quyết bài toán áp lực môi trường. Ông Johan van den Ban nhận định, để nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu, toàn ngành cần thấu hiểu sâu sắc tiêu chuẩn khắt khe tại Mỹ, châu Âu, châu Á. Việc chủ động xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ từ con giống, thức ăn, quy trình nuôi đến chế biến và xuất khẩu là chìa khóa cốt lõi để kết nối năng lực sản xuất nội địa với tiêu dùng toàn cầu.
Trong bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, hiện đại và bền vững, sự kiện VietAgros 2026 không chỉ là nơi trưng bày công nghệ mà còn mở ra diễn đàn, không gian kết nối quan trọng giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho toàn ngành.











