Thuốc mới vào Việt Nam chậm hơn các nước ASEAN nhiều năm

Trong khi nhiều nước trong khu vực sớm đưa thuốc mới vào điều trị, người bệnh Việt vẫn phải chờ đợi vì thiếu cơ chế tài chính và mức chi y tế còn thấp.

 Thuốc phát minh trên thế giới vào Việt Nam còn hạn chế. Ảnh: Citaa.

Thuốc phát minh trên thế giới vào Việt Nam còn hạn chế. Ảnh: Citaa.

Nhiều quốc gia ASEAN liên tục tăng đầu tư cho y tế và rút ngắn thời gian đưa thuốc mới ra thị trường, Việt Nam vẫn đối mặt dư địa cần bổ sung cho y tế lớn.

Theo số liệu từ Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London công bố năm 2024 về khoảng cách tài khóa trong chi tiêu y tế của các nước ASEAN năm 2020, Việt Nam hiện nằm trong nhóm quốc gia có dư địa đầu tư y tế còn lớn.

Tính toán của các chuyên gia dựa trên mô hình phát triển bền vững chỉ ra, mức chi y tế từ nguồn chính phủ trong nước (GGHE-D) của Việt Nam mới đạt hơn 2% GDP, tạo ra một "khoảng trống tài khóa" cần bù đắp lên tới gần 3% GDP.

Con số này phản ánh phần thiếu hụt giữa mức chi hiện tại với nhu cầu đầu tư y tế cần thiết để đáp ứng mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân, giảm mức chi tiêu tiền túi và mở rộng khả năng tiếp cận điều trị.

Chỉ 9% hoạt chất mới có mặt tại Việt Nam

Theo thống kê, trong 20 năm qua, các công ty dược phát minh toàn cầu đã đưa ra khoảng 942 hoạt chất mới cùng nhiều loại vaccine phòng hơn 30 bệnh khác nhau.

Tuy nhiên, tốc độ tiếp cận thuốc mới tại Việt Nam còn cần cải thiện. Theo báo cáo từ IQVIA, trong hơn 460 hoạt chất mới được ra mắt toàn cầu 10 năm qua, chỉ khoảng 42 hoạt chất có mặt tại Việt Nam, tương đương khoảng 9%.

Trong khi đó, tỷ lệ này ở Nhật Bản vượt 50%, Đài Loan khoảng 38% và Singapore khoảng 27%.

Đáng chú ý, chỉ khoảng 2% thuốc mới về Việt Nam trong vòng một năm sau khi được ra mắt trên toàn cầu. Điều này cho thấy không chỉ số lượng thuốc mới còn hạn chế mà thời gian tiếp cận cũng chưa được nhanh bằng nhiều nước trong khu vực.

 Người dân nhận thuốc BHYT. Ảnh: Nguyễn Thuận.

Người dân nhận thuốc BHYT. Ảnh: Nguyễn Thuận.

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, Giám đốc Pharma Group, Luật Dược sửa đổi năm 2024 của Việt Nam đã đưa ra nhiều cơ chế được đánh giá là rất tiên tiến, đặc biệt là cơ chế tham chiếu trong đăng ký thuốc.

Nếu được triển khai hiệu quả, thuốc mới sau khi được phê duyệt tại châu Âu, Mỹ hoặc Nhật Bản có thể vào Việt Nam chỉ sau khoảng 9 tháng, thậm chí nhanh hơn cả Singapore.

Bà Thủy cho hay việc phê duyệt thuốc phát minh sớm cũng sẽ tạo nền tảng cho thuốc generic có thể được đưa ra thị trường sớm hơn trong tương lai. Bởi dữ liệu về chất lượng, độ an toàn và hiệu quả của thuốc gốc chính là cơ sở quan trọng để cơ quan quản lý xem xét cấp phép cho thuốc generic sau này.

Bà Thủy cho biết thêm nhiều tập đoàn dược phẩm lớn trên thế giới chưa thành lập pháp nhân tại Việt Nam cũng đang cân nhắc để đầu tư. Họ vẫn theo dõi rất sát thị trường, đặc biệt là cách Việt Nam thực thi các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ (SHTT).

Theo bà Thủy, nhờ có sở hữu trí tuệ, ngành công nghiệp dược phẩm toàn cầu đã và đang liên tục nghiên cứu và phát triển các liệu pháp phòng và điều trị mới. Hiện toàn cầu còn có hơn 12.700 loại thuốc đang trong các giai đoạn nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng khác nhau. Các công ty dược phát minh cũng tái đầu tư ít nhất 30% doanh thu toàn cầu cho hoạt động nghiên cứu phát triển, cao hơn phần lớn ngành công nghiệp khác.

“SHTT là một trong những chỉ dấu rất quan trọng để doanh nghiệp đưa ra quyết định về các dự án đầu tư lớn, lâu dài cũng như đệ trình hồ sơ đăng ký thuốc, vaccine tiên tiến sớm nhất có thể vào Việt Nam”, bà Thủy nói.

Điểm nghẽn lớn về chi trả

Ở khía cạnh người bệnh sẽ thiệt thòi khi khó tiếp cận thuốc mới, bà Thủy cho rằng sở hữu trí tuệ hay thủ tục đăng ký thuốc chỉ là một phần của bài toán tiếp cận thuốc. Nút thắt lớn hiện nay lại nằm ở việc chậm cập nhật danh mục thuốc được bảo hiểm y tế thanh toán.

Với các thuốc tiên tiến và thuốc đặc trị, hơn 2/3 lượng mua hiện nay vẫn đến từ Nhà nước. Điều này đồng nghĩa thuốc dù đã được cấp phép nhưng nếu chưa được đưa vào danh mục bảo hiểm y tế thì cơ hội tiếp cận của bệnh nhân vẫn rất hạn chế.

"Hiện danh mục bảo hiểm y tế đã khoảng 8 năm chưa được cập nhật toàn diện", bà Thủy nói.

Tại Việt Nam, bảo hiểm y tế thanh toán theo hoạt chất thay vì tên thương mại. Vì vậy, khi một hoạt chất được đưa vào danh mục chi trả, tất cả thuốc chứa hoạt chất đó trên thị trường đều có cơ hội được thanh toán bảo hiểm.

 Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, Giám đốc Pharma Group. Ảnh: Pharma Group.

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, Giám đốc Pharma Group. Ảnh: Pharma Group.

Từ năm ngoái, Bộ Y tế đã đưa ra các cam kết liên quan đến việc cập nhật danh mục thuốc bảo hiểm y tế sớm. Theo kế hoạch, tháng 11 năm nay là thời hạn hoàn thiện, dù cơ quan quản lý đang nỗ lực đẩy nhanh hơn.

Lãnh đạo Vụ Bảo hiểm y tế gần đây cũng cho biết danh mục mới có thể được ban hành ngay trong tháng 5 hoặc tháng 6.

Bà Thủy cũng nói thêm bài toán chi trả không chỉ là vấn đề riêng của Việt Nam. Ngay cả các quốc gia phát triển như Japan hay Singapore cũng chịu áp lực cân bằng quỹ bảo hiểm trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng.

Do đó, việc cập nhật danh mục thuốc không chỉ đơn thuần là bổ sung thuốc mới mà còn là quá trình “làm mới” toàn bộ danh mục điều trị, có thể loại bỏ một số thuốc cũ để ưu tiên phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

Hiện người dân Việt Nam vẫn phải tự chi trả gần 40% tổng chi phí y tế từ tiền túi. Trong khi đó, mức đầu tư cho y tế của Việt Nam hiện mới khoảng 2,2% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức khoảng 5% GDP mà World Health Organization khuyến nghị.

Nguyễn Thuận

Nguồn Znews: https://znews.vn/thuoc-moi-vao-viet-nam-cham-hon-cac-nuoc-asean-nhieu-nam-post1652076.html