Triển khai hiệu quả 'chỉ trường y mới được đào tạo bác sĩ': Cần lộ trình phù hợp, tăng quy mô đào tạo
Các chuyên gia cho rằng, để triển khai hiệu quả yêu cầu chỉ có trường y mới được đào tạo bác sĩ, không cho phép trường không chuyên đào tạo cử nhân luật thì phải có lộ trình phù hợp, có chính sách tăng quy mô đào tạo cũng như giải pháp gắn kết đào tạo với các ngành khoa học kỹ thuật khác.
Ngày 25/11, Quốc hội thảo luận ở Tổ về chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035; chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035.
Cho ý kiến tại phiên thảo luận, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình nhấn mạnh, Bộ Chính trị không đặt ra yêu cầu xây dựng 100 hay 200 trường đại học. Thay vào đó, lần này tập trung xây dựng lại các tiêu chí của trường đại học đạt chuẩn quốc tế. Các trường đại học nếu không đủ chuẩn sẽ tự sáp nhập, tự giải thể. Các tiêu chí sẽ quy định rõ về số lượng giáo sư, tiến sĩ và lĩnh vực đào tạo.
Nghị quyết cũng chủ trương không cho phép các trường đại học không chuyên đào tạo một số lĩnh vực. Ví dụ, chỉ có trường y mới được đào tạo bác sĩ. Hiện nay, Việt Nam có hơn 90 khoa luật tại các trường không chuyên; tới đây không cho phép các trường không chuyên đào tạo cử nhân luật, chỉ cho phép dạy luật như một môn phối hợp.
Phải có lộ trình phù hợp
Trao đổi với phóng viên Báo Đại biểu Nhân dân, ông Lê Như Tiến - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội bày tỏ đồng tình với chủ trương không cho phép các trường đại học không chuyên đào tạo một số lĩnh vực, như ngành y và ngành luật nói trên.
Ông nhìn nhận, hiện có nhiều trường đại học đa ngành cũng mở khoa Y dược và đào tạo bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ; mở khoa Luật để đào tạo luật sư.
Trong khi đó, đây không phải là những lĩnh vực thế mạnh, sở trường của họ, các điều kiện đảm bảo không đủ có thể dẫn đến chất lượng đào tạo chưa hiệu quả. Đây lại là những lĩnh vực rất quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt ngành y còn liên quan đến việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe người dân. “Theo tôi, cần có giải pháp để việc đào tạo theo đúng chuyên ngành”, ông nói.
Tuy nhiên, ông Lê Như Tiến cũng nhìn nhận, để có thể triển khai hiệu quả định hướng này, phải có lộ trình chi tiết để một mặt mở rộng quy mô đào tạo của các trường chuyên ngành, đáp ứng nhu cầu của xã hội, bên cạnh đó thu hẹp dần quy mô đào tạo của các cơ sở không chuyên.
“Phải có lộ trình phù hợp, nếu quyết định gấp rút sẽ khó khăn cho các cơ sở giáo dục đào tạo”, ông cho hay.

Sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Liên
Cần chính sách tăng quy mô đào tạo ngành y
Tiến sĩ Lê Đông Phương, chuyên gia giáo dục cũng cho rằng, việc Quốc hội đưa vấn đề “chỉ có trường y mới được đào tạo bác sĩ” vào thảo luận là hợp lý trong bối cảnh thực tiễn hiện nay, khi gần đây đã có một một số trường đại học, nhất là các trường tư ào ạt mở thêm ngành khoa học sức khỏe, chủ yếu là đào tạo bác sĩ đa khoa.
Trong khi đó nhiều đơn vị không có bệnh viện thực hành, điều kiện đảm bảo không đủ, vấn đề cơ sở vật chất, giảng viên cũng thiếu, dẫn đến e ngại của nhiều người về chất lượng đào tạo nhân lực ngành y tế.
“Ngành y liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, nếu đào tạo không đảm bảo, hay nói cách khác là chất lượng kém sẽ dẫn đến rất nhiều hệ lụy. Do đó, vấn đề này rất cần phải cân nhắc, suy tính”, Tiến sĩ Lê Đông Phương cho hay.
Tuy nhiên, ông cũng nhìn nhận, cần định nghĩa rõ ràng về khái niệm “thế nào là trường y”. Ông phân tích, các trường y độc lập như mô hình truyền thống có lợi thế rất lớn về chuyên môn khi tập trung đào tạo các ngành khoa học sức khỏe. Nhưng trong thời đại công nghệ số, công nghệ 4.0, trí tuệ nhân tạo như hiện nay, nếu trường đại học y hay khoa y nằm trong các đại học đa ngành sẽ có thêm lợi để tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Đây cũng là điều phải cân nhắc, đặc biệt trong thời đại công nghệ, khi các lĩnh vực khoa học kỹ thuật đã thâm nhập vào tất cả lĩnh vực khác.
Mặt khác, cũng cần đặt câu hỏi nếu chỉ giới hạn trong những trường y độc lập thì khả năng đáp ứng tỷ lệ số nhân lực y tế trên số dân có thể đảm bảo hay không. “Để triển khai hiệu quả thì phải có chính sách tăng quy mô đào tạo ngành y và có giải pháp để gắn kết đào tạo với các ngành khoa học kỹ thuật khác”, Tiến sĩ Lê Đông Phương nêu quan điểm.
Hiện tại, theo thống kê, cả nước có 214 cơ sở đào tạo nhân lực y tế, trong đó 66 cơ sở giáo dục đại học, 139 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, 9 Viện nghiên cứu có đào tạo tiến sĩ. Trong đó theo phân cấp quản lý, Bộ Y tế quản lý 22 trường (11 cơ sở giáo dục đại học; 4 cơ sở giáo dục nghề nghiệp) và 7 Viện nghiên cứu có đào tạo tiến sĩ.
Số bác sĩ tốt nghiệp năm 2023 là 11.297 bác sĩ, số dược sĩ tốt nghiệp năm 2023 là 8.470 dược sĩ, số Điều dưỡng tốt nghiệp năm 2023 là 18.178 người.
Về quy mô tuyển sinh năm 2024, số chỉ tiêu tuyển sinh bác sĩ là 16.500 chỉ tiêu, dược sĩ là 13.350 chỉ tiêu và điều dưỡng đại học là 10.300 chỉ tiêu. Với quy mô đào tạo bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ của các cơ sở giáo dục đại học như hiện nay, dự kiến năm 2025 cơ bản đạt được chỉ tiêu cho năm 2025 là 15 bác sĩ/vạn dân, 3,4 dược sĩ/vạn dân và 25 điều dưỡng/vạn dân.
Về đào tạo chuyên sâu đặc thù trong lĩnh vực sức khỏe, đến nay đã có 29 cơ sở giáo dục đại học tham gia đào tạo trình độ chuyên khoa (chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II, bác sĩ nội trú) - loại hình đào tạo sau đại học đặc thù ngành y tế với yêu cầu gắn liền giữa cơ sở đào tạo và cơ sở khám chữa bệnh.
Hệ thống đào tạo trình độ chuyên khoa gồm chuyên khoa cấp I (48 ngành), chuyên khoa cấp II (40 ngành) và bác sĩ nội trú (40 ngành). Số tốt nghiệp trình độ sau đại học năm 2023 tổng số là 10.135, gồm chuyên khoa cấp I là 5069, chuyên khoa cấp II là 1136, bác sĩ nội trú là 911, thạc sĩ là 2762, tiến sĩ là 257.
Về chủ trương “không cho phép các trường không chuyên đào tạo cử nhân luật, chỉ cho phép dạy luật như một môn phối hợp”, Tiến sĩ Lê Đông Phương nhìn nhận, hiện số trường luật độc lập cũng không nhiều. Trong khi đó luật là lĩnh vực khoa học ứng dụng trong ngành xã hội và rất cần thiết trong cuộc sống.
Không chỉ các cơ quan nhà nước mà doanh nghiệp, các cá nhân, tổ chức đều cần kiến thức pháp luật, cần những nhân sự rất hiểu biết về pháp luật. Do đó, nếu chỉ giới hạn phạm vi đào tạo ở các trường luật hiện nay sẽ rất thiếu.
“Khi tốt nghiệp ngành luật, người ta không chỉ đi làm luật sư mà còn làm hỗ trợ tư pháp và nhiều lĩnh vực khác. Chủ trương không cho phép các trường không chuyên đào tạo cử nhân luật, tôi cho rằng cũng hợp lý bởi để đào tạo ra các luật sư giỏi, có khả năng tranh tụng, có thể phân tích được các mối quan hệ phức tạp trong vấn đề pháp lý sẽ cần đào tạo ở những trường giàu kinh nghiệm, có đội ngũ giảng viên giỏi, uy tín trong lĩnh vực này. Tuy nhiên về góc độ để thực hiện các công tác liên quan đến pháp lý thì có lẽ là bất kỳ khoa luật nào của một trường đại học đa ngành cũng đều có thể làm được. Do đó, theo tôi cần có sự xem xét để không giới hạn ở khía cạnh này”, Tiến sĩ Lê Đông Phương nhấn mạnh.











