Từ 'người mê phim số 2' đến 'sử gia' của điện ảnh Việt
Trong 'Chuyện người mê phim số 2', Cao Nhị hiện ra không chỉ như một trong những nhà phê bình phim đầu tiên của điện ảnh Cách mạng Việt Nam, mà còn là một tri thức đầy đủ phẩm chất.
Kỷ niệm 20 năm dịch giả - nhà phê bình Cao Nhị rời cõi tạm, mới đây, NXB Trẻ đã cho ấn hành Chuyện người mê phim số 2 tập hợp hàng chục bài viết chân dung nhân vật, phỏng vấn người nổi tiếng cũng như bài phê bình phim của cây viết này.
Qua đó, một lịch sử sống động của nền điện ảnh Việt Nam thời còn non trẻ đã được tái hiện. Tuy có khoảng cách hơn nửa thế kỷ, nhưng những bài viết vẫn sẽ mang đến những bài học lớn về sự hy sinh, cống hiến hết mình, vượt qua nghịch cảnh của các nghệ sĩ và giới làm phim.

Sách Chuyện người mê phim số 2 do NXB Trẻ ấn hành đúng 20 năm ngày tác giả về cõi người hiền. Ảnh: NXB Trẻ
Đóng góp cho điện ảnh nước nhà
Nổi tiếng với việc chuyển ngữ nhiều tác phẩm lớn như Trên đường (Jack Kerouac), Người đàn bà vùng gió (Judith Kantz)… độc giả ngày nay biết đến Cao Nhị bằng tài năng ngôn ngữ, thế nhưng nửa thế kỷ trước, ông được biết đến nhiều hơn với những bài viết điện ảnh thức thời, sát sao và rất tinh nhạy.
Khởi đầu với nguyệt san Kể chuyện phim xoay quanh những phim nước ngoài với mục đích chính là kéo khán giả đến rạp, ông chuyển sang báo Sáng tạo do bản thân và bạn bè sáng lập, trước khi yên vị ở tờ báo điện ảnh đầu tiên của đất nước, từ đó trở thành người giữ mục Sổ tay, ký tên “Người mê phim số 2”, sau này là “Người yêu phim”.
Trong hành trình đó, ông dần trở thành một trong những nhà phê bình phim đầu tiên của điện ảnh Việt. Như ông chia sẻ: “Người cầm bút ở đây [nguyệt san Kể chuyện phim] được cưng lắm. Có thể xem phim các rạp, muốn xem rạp nào chỉ cần chìa thẻ ra là vào - quen nhau như người nhà ấy”, vì vậy ông có một nguồn “tư liệu” vô cùng phong phú, khi được tiếp xúc với chuyện hậu trường lẫn việc đời thực của người nổi tiếng.
Không dừng ở đó, Cao Nhị còn theo dõi sát sao điện ảnh thế giới, kể cả những tác phẩm đôi khi vẫn còn ở dạng ý tưởng hay bản dựng đầu. Với “đầu vào” đa dạng cùng óc quan sát bén nhạy, tài năng chữ nghĩa độc đáo, không ngoa khi nói ông là “sử gia điện ảnh” của giai đoạn này.
Trong sách, ta sẽ được gặp những con người lớn, qua đó hiểu thêm về đời sống cá nhân lẫn những quan điểm về sáng tạo, nghệ thuật của các nghệ sĩ hàng đầu, qua loạt tác phẩm lớn như Chị Tư Hậu, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Bài ca ra trận, Em bé Hà Nội, Lửa trung tuyến, Chị Dậu, Làng Vũ Đại ngày ấy, Chung một dòng sông…
Không bị cuốn theo ảo ảnh xa hoa, trong nhiều bài viết, Cao Nhị đã chỉ ra những điều chưa được, giúp nhà làm phim có thể thay đổi một cách kịp thời. Ông cũng mạnh mẽ bảo vệ những sáng tạo nghệ thuật mới, dù đôi khi chúng có xung đột với ý thức hệ ở thời bấy giờ. Qua đây có thể thấy ông là một cây viết cá tính, rạch ròi, phân minh, không hạn chế mình trong những khuôn khổ thời đại mà luôn cởi mở, đón nhận những điều mới mẻ.
Bên cạnh đó, ông cũng không dừng lại ở những đại diện thuộc về bề nổi, mà còn đi sâu vào những cá nhân đóng góp quan trọng nhưng thầm lặng, ẩn khuất ở hậu trường. Đó là những khâu thường bị bỏ qua như thiết kế bối cảnh, lồng tiếng, ánh sáng… cho đến những người ở cấp thượng tầng, như quản lý dự án, giám đốc sản xuất… Từ đây muôn mặt của ngành điện ảnh đã được hiện ra, cho thấy ở những ngày đầu còn nhiều khó khăn nhưng họ vẫn luôn cố gắng hoàn thành hết sức của mình
Qua đó ông cũng rút ra “nghệ thuật còn bị chê là cầu kỳ, ắt chưa phải là tinh thông nghệ thuật”. Ông cũng cho thấy thành công của những tên tuổi như Danh Tấn, Tuấn Tú, Lê Vân, Đức Lưu… không đến dễ dàng, mà đó là những tìm tòi, không ngừng đổi mới, thử thách bản thân. Để theo thời gian, họ đã trở thành những “mỏ đã chín cả về vốn sống lẫn nghệ thuật - một cái mỏ quý để ta khai thác”.

Trong sách, nhiều nghệ sĩ nổi tiếng được Cao Nhị phác họa ấn tượng như Trà Giang, Lê Vân, Đức Lưu… Trong ảnh: NSND Trà Giang tại LHP quốc tế Moskva 1963. Ảnh: Lê Quang Thanh Tâm
Trong ký ức của người ở lại
Bên cạnh những trang viết về giới phim ảnh, cuốn sách cũng chứa đựng rất nhiều kỷ niệm, những nỗi hoài nhớ về bản thân ông của bạn bè, người thân cũng như hậu thế. Nhà báo Trung Sơn nhớ về Cao Nhị với một ấn tượng không thể phai nhòa: “Xem xong phim anh thường yên lặng, không bàn tán gì. Nhưng chỉ vài ngày sau là xong bài, viết có duyên, chữ nghĩa giản dị, nhận định xác đáng về câu chuyện.”
Với đạo diễn Đặng Nhật Minh, Cao Nhị chính là người đầu tiên được ông kể cho nghe ý tưởng về phim Bao giờ cho đến tháng Mười – tác phẩm sau này được BBC bình chọn là một trong những phim châu Á xuất sắc nhất mọi thời đại. Sinh thời, nhà phê bình cũng dành nhiều bài viết cho các tác phẩm của vị đạo diễn, trong đó có những đánh giá vô cùng tích cực cho Thị xã trong tầm tay.
Nhà làm phim nhớ lại: “Tôi nhớ ông Cao Nhị ở tài kể chuyện phim. Vào những năm 55, đâu có biết điện ảnh là gì, thế mà khi đọc kể chuyện phim của ông, tôi cố đi xem phim. Có khi xem phim lại thấy không hay bằng đọc kể chuyện phim của ông”.

Đạo diễn Đặng Nhật Minh cho biết Cao Nhị được ông tiết lộ ý tưởng về Bao giờ cho đến tháng Mười rất sớm. Trong ảnh: Vai diễn của Lê Vân trong phim. Bà cũng là một nhân vật trong cuốn sách này. Ảnh: Tư liệu
Về đời sống cá nhân, ông thường được nhớ đến khi gắn liền với một căn buồng nhỏ như cái tum ở tầng ba ngôi nhà trên Trần Quốc Toản, trước sau có sân thoáng đãng. Cũng như những nhân vật chính thuộc Thế hệ Beat trong cuốn Trên đường, Cao Nhị thường được biết đến là một con người vô cùng phóng khoáng, sống không khuôn khổ với sự hồn nhiên, nhạy cảm của người nghệ sĩ.
Nhà văn Mai Lâm - thành viên trong gia đình - chia sẻ: “Có những người khiến ta ngạc nhiên bởi sự siêu phàm, nhưng lại cũng có người khiến ta ngạc nhiên bởi sự hồn nhiên bình dị của họ. Ông Cao Nhị, bố dượng tôi, thuộc loại thứ hai. Tôi cho rằng chính sự bình thường đến tối giản đã làm nên vẻ kỳ dị của ông, đến nỗi bản thân ông với những chuyện đời thường mà cũng trở thành giai thoại trong gia đình tôi mỗi khi nhắc đến.”
Từ những mảnh ghép như đã nói trên, ta thấy ở ông một sự tài hoa, một người cống hiến hết mình cho cái hay, cái đẹp, cho phim ảnh và cho nghệ thuật. Dẫu ngày hôm nay “di sản” được biết đến rộng rãi nhất của ông là các bản dịch, nhưng qua cuốn sách đặc biệt này, ta còn biết thêm một Cao Nhị khác – một nhà phê bình, có đóng góp lớn từ những ngày đầu cho môn nghệ thuật thứ 7.











