Xây dựng nghị quyết mới, đưa biển thành không gian tăng trưởng chiến lược

Để kinh tế biển thực sự tương xứng với tiềm năng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu xây dựng nghị quyết mới, đưa biển thành không gian tăng trưởng chiến lược của quốc gia.

Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, kinh tế biển Việt Nam ghi nhận nhiều kết quả tích cực nhưng chưa tương xứng tiềm năng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu xây dựng nghị quyết mới, biến biển thành không gian tăng trưởng chiến lược của quốc gia.

Kinh tế biển Việt Nam bao gồm những gì?

Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế trải rộng khoảng một triệu km2, gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền. Đây là nền tảng địa lý để hình thành một nền kinh tế biển đa ngành, đa lĩnh vực.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 xác định, các ngành kinh tế biển cốt lõi gồm: du lịch và dịch vụ biển; kinh tế hàng hải, vận tải biển, cảng biển; khai thác dầu khí và tài nguyên khoáng sản biển; nuôi trồng, khai thác hải sản xa bờ; công nghiệp ven biển; năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Ngoài ra, quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo gắn với phát triển kinh tế là yêu cầu xuyên suốt, không tách rời.

Hình ảnh tư liệu Bác Hồ về thăm Cảng Hải Phòng năm 1957. Ảnh: TTXVN

Hình ảnh tư liệu Bác Hồ về thăm Cảng Hải Phòng năm 1957. Ảnh: TTXVN

Chủ trương nhất quán qua các kỳ Đại hội

Tư tưởng hướng biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nền tảng cho toàn bộ chiến lược biển của Đảng. Ngày 30/5/1957 tại Hải Phòng, Người nhắc nhở: "Cảng ta là cửa ngõ miền Bắc xã hội chủ nghĩa... muốn xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa, phải có công nghiệp hiện đại, giao thông vận tải hiện đại, cảng hiện đại".

Ngày 15/3/1961, trong lần thứ hai thăm Bộ đội Hải quân, Người căn dặn: "Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó".

Từ Đại hội VI (1986), Đảng xác định ngư nghiệp là "một trong những mặt trận kinh tế hàng đầu". Đại hội VII (1991) lần đầu đặt mục tiêu khai thác toàn diện tiềm năng kinh tế biển. Bước ngoặt quan trọng là Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 của Hội nghị Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, lần đầu xác định mục tiêu đưa Việt Nam "trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển".

Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII tiếp tục nâng tầm, đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và đến năm 2045 trở thành quốc gia biển phát triển. Đại hội XIII (2021) khẳng định kinh tế biển là một trong những trụ cột tăng trưởng, gắn phát triển biển với bảo vệ chủ quyền và môi trường biển.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc ngày 8/6/2026. Ảnh: Đăng Khoa

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc ngày 8/6/2026. Ảnh: Đăng Khoa

Sau 8 năm: Những hạn chế cần thẳng thắn nhìn nhận

Tại cuộc làm việc ngày 8/6/2026 tại Trụ sở Trung ương Đảng về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: "Nghị quyết số 36-NQ/TW là một quyết sách đúng đắn, có tầm chiến lược. Sau 8 năm thực hiện, nhận thức về vị trí, vai trò của biển được nâng lên; hệ thống thể chế, chính sách từng bước được hoàn thiện; nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá, kết cấu hạ tầng ven biển được tăng cường; đời sống của người dân vùng biển được cải thiện; quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo vệ chủ quyền biển đảo đạt nhiều kết quả quan trọng".

Tại Hội thảo Quốc gia với chủ đề "Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững" diễn ra mới đây tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp nhận định, sau hơn 8 năm triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực bước đầu. Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn thừa nhận rằng sự đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế quốc dân vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của một quốc gia có hơn 3.260 km bờ biển và diện tích biển hơn 1 triệu km2.

Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, một trong những rào cản lớn nhất hiện nay là sự chồng chéo trong công tác quản lý Nhà nước. Điển hình là những giao thoa, bất cập giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với các bộ luật chuyên ngành khác như Luật Điện lực, Luật Hàng hải. Sự thiếu thống nhất này không chỉ làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính phức tạp mà còn tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp, khiến các dự án kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi hay nuôi trồng thủy sản biển xa bờ gặp khó khăn khi triển khai thực tế.

Để giải quyết các bất cập hiện tại trong phát triển kinh tế biển, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đã giới thiệu những điểm mới mang tính đột phá trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Theo ông Nguyễn Quốc Toản, điểm cốt lõi của lần sửa đổi này là việc chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy quản lý tài nguyên đơn lẻ sang quản trị tổng hợp không gian biển. Dự thảo luật mới nhìn nhận, biển là một không gian phát triển đa mục tiêu, gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế, quốc phòng, an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia.

Đặc biệt, dự thảo lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung cơ chế đấu giá quyền sử dụng khu vực biển và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển; giúp hạn chế cơ chế "xin - cho", tăng tính minh bạch và tạo môi trường pháp lý ổn định, lâu dài cho các nhà đầu tư lớn. Bên cạnh đó, các cơ chế ưu đãi đặc thù cho các ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, kinh tế carbon thấp và logistics biển cũng được đề xuất để kiến tạo động lực phát triển mới.

Trước đó, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đã tổ chức Hội nghị tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 - khu vực phía Bắc và Hội thảo quốc gia "Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững" tại Nghệ An với sự tham dự của lãnh đạo các tỉnh, thành phố có biển, các chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp. Kết quả tổng kết ghi nhận nhiều bất cập trong thể chế, chính sách chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế biển quy mô lớn, hiện đại.

Trong hệ sinh thái kinh tế biển quốc gia, ngành Công Thương giữ vai trò then chốt trên nhiều phương diện: xuất nhập khẩu qua cảng biển, phát triển công nghiệp ven biển, khai thác và chế biến tài nguyên biển, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng biển. Điểm sáng tiêu biểu là Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam).

Theo số liệu từ Petrovietnam, giai đoạn 2023 - 2025, Petrovietnam gia tăng trữ lượng đạt 38,8 triệu tấn quy dầu, khai thác gần 25 triệu tấn dầu và gần 20 tỷ mét khối khí, nộp ngân sách nhà nước hơn 480.000 tỷ đồng. Riêng năm 2024, sản lượng khai thác dầu đạt 9,87 triệu tấn, vượt 20,4% kế hoạch năm. Tổng doanh thu toàn Tập đoàn giai đoạn 5 năm đạt 3,5 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 16,7%/năm.

Đặc biệt, Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) đơn vị thành viên của Petrovietnam đã hoàn thành và bàn giao 33 chân đế điện gió ngoài khơi cho đối tác quốc tế Ørsted, đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam chế tạo và xuất khẩu thành công chân đế điện gió quy mô lớn ra thị trường thế giới.

Tính đến giữa năm 2025, tổng giá trị hợp đồng và thỏa thuận hợp tác của Petrovietnam trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi đã vượt mốc 1 tỷ USD.

Bên cạnh đó, Dự án mỏ Đại Hùng giai đoạn 3 được triển khai hoàn toàn bằng nguồn lực trong nước, với 100% cán bộ, kỹ sư và chuyên gia người Việt Nam thực hiện tại vùng biển có độ sâu hơn 110m, là bước tiến mang tính lịch sử về năng lực làm chủ công trình dầu khí lớn của tập đoàn này.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đã đạt được, để khai phá hết "dư địa rất lớn" của kinh tế biển, cần tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý và chuyển dịch sang các mô hình kinh tế biển xanh.

Khai thác dầu khí là ngành công nghiệp mũi nhọn tại Việt Nam. Ảnh: Ngọc Phương

Khai thác dầu khí là ngành công nghiệp mũi nhọn tại Việt Nam. Ảnh: Ngọc Phương

Định hướng chiến lược cho giai đoạn tới

Trong buổi làm việc ngày 8/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thẳng thắn chỉ rõ: "Kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước". Tiềm năng năng lượng tái tạo khổng lồ, nguồn lợi thủy sản phong phú và các tuyến hàng hải huyết mạch kết nối với thế giới vẫn chưa được khai thác đúng mức.

Cần phải tiếp tục rà soát, đánh giá kết quả đạt được và các tồn tại, hạn chế, nhất là chỉ rõ những điểm nghẽn lớn, những vấn đề mới đặt ra từ thực tiễn hiện nay. Mô hình tăng trưởng hiện hành đang bộc lộ giới hạn cấu trúc, đòi hỏi khai mở những nguồn lực mới có tầm chiến lược, trong đó kinh tế biển được xác định là trụ cột không thể thiếu.

Sau khi nghe các báo cáo đánh giá, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, phải xác định nguồn lực từ biển là một trong những động lực chiến lược để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, phát triển nhanh, bền vững. Biển phải trở thành không gian tăng trưởng mới của quốc gia, nơi hình thành các cực tăng trưởng mới, những ngành kinh tế mới, các động lực phát triển mới, có khả năng tạo đột phá.

Để hiện thực hóa định hướng đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, thống nhất sự cần thiết ban hành một nghị quyết mới của Trung ương về phát triển kinh tế biển, thay thế Nghị quyết 36-NQ/TW. Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương được giao tiếp tục rà soát, nghiên cứu, hoàn thiện đề án cùng chương trình hành động, trình Bộ Chính trị cho ý kiến và báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Thực tiễn đã cho thấy, từ những kỳ tích mà ngành Công Thương và Petrovietnam đạt được trên vùng biển quốc gia, câu trả lời về năng lực khai thác kinh tế biển của Việt Nam đang được viết bằng hành động cụ thể. Vấn đề còn lại là thể chế, chính sách và nguồn lực đầu tư phải được sắp xếp đồng bộ để biến tiềm năng thành hiện thực trong giai đoạn phát triển mới.

Nguyên Khánh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/xay-dung-nghi-quyet-moi-dua-bien-thanh-khong-gian-tang-truong-chien-luoc-460508.html