15 năm hoạt động đối ngoại nghị viện, hồi ức và nhìn về tương lai: Bài 2: Giám sát thực hiện các điều ước song phương, thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và các nước

Ủy ban Đối ngoại đã lấy giám sát việc thực hiện các điều ước song phương mà Việt Nam đã ký với các nước làm một nội dung trong hợp tác liên nghị viện, góp phần thúc đẩy hợp tác giữa nước ta với các nước.

Từ giám sát về kinh tế đối ngoại...

Trong đối ngoại, có mảng kinh tế đối ngoại. Vào thời điểm năm 1997, nhận thấy lĩnh vực này chưa được Ủy ban nào của Quốc hội quan tâm và được phân công, nên ngay từ đầu khóa X, tôi đã đề xuất với Chủ nhiệm Ủy ban Đỗ văn Tài, Ủy ban Đối ngoại nên dành thời gian và công sức cho lĩnh vực quan trọng này.

Chủ tịch Cuba Fidel Castro và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An chụp ảnh lưu niệm với Đoàn ĐBQH Việt Nam năm 2006. Ảnh: Tư liệu

Chủ tịch Cuba Fidel Castro và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An chụp ảnh lưu niệm với Đoàn ĐBQH Việt Nam năm 2006. Ảnh: Tư liệu

Được sự chấp thuận của lãnh đạo Quốc hội, Ủy ban đã tiến hành giám sát lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngay từ cuối năm 1997 kéo dài đến đầu năm 1998. Báo cáo Kết quả đợt giám sát về đầu tư trực tiếp nước ngoài, số 68/UBĐN ngày 28/2/1998, là báo cáo giám sát FDI đầu tiên của Quốc hội đúng 10 năm sau khi Luật Đầu tư nước ngoàiđược ban hành.

Trong các tháng 8, 9, 10/1998 và tháng 4/1999, Ủy ban Đối ngoại đã triển khai chương trình giám sát được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phân công, phối hợp với các ủy ban khác có liên quan, giám sát việc giao lưu kinh tế qua biên giới và an ninh biên giới có liên quan đến đối ngoại, suốt dọc ba tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào và Việt Nam - Campuchia.

Chính nhờ thực tế triển khai công tác giám sát mà Ủy ban Đối ngoại đã có những báo cáo Tổng kết tình hình giao lưu kinh tế với bên ngoài qua các cửa khẩu và phương hướng phát triển quan hệ kinh tế với các nước láng giềng”; “Về công tác biên giới qua giám sát về kinh tế đối ngoại”; “Hoạt động giám sát trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, những vấn đề đặt ra và những khó khăn cần giải quyết”, và “Đại biểu Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề đối ngoại và hội nhập kinh tế”.

Hỗ trợ chính thức phát triển (ODA) là nguồn vốn có đến 85% vay của các nhà tài trợ đa phương và song phương. Không thế hệ này thì cũng là các thế hệ sau sẽ phải trả, do vậy cần sử dụng cho thật có hiệu quả. Với nhận thức đó, Ủy ban Đối ngoại đã quan tâm khá sớm và một cách nghiêm túc đến lĩnh vực này qua hai lần giám sát. Lần thứ nhất, trong hai tháng 9, 10/1999, lần thứ hai, từ trung tuần tháng 7 đến cuối tháng 10/2003, vào các thời điểm đúng 5 năm và 10 năm sau khi các nhà tài trợ nối lại viện trợ ODA với nước ta năm 1993.

Được phép của Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Đối ngoại đã biên tập tài liệu “Những nhận xét và kiến nghị về việc huy động, sử dụng, và quản lý vốn hỗ trợ chính thức phát triển (ODA) qua hai lần giám sát 1999 và 2003” để gửi đến các đại biểu Quốc hội ngay tại Kỳ họp thứ Mười, ngày 25/5/2006.

... đến giám sát việc thực hiện các điều ước đã ký

Nhờ có theo dõi liên tục mảng kinh tế đối ngoại, Ủy ban Đối ngoại khóa X được Quốc hội phân công chủ trì việc thẩm tra tờ trình của Chính phủ để Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Thương mại song phương (BTA) Việt Nam - Hoa Kỳ.

Nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội nói rõ những thời cơ và thách thức hàm chứa trong Hiệp định, những việc cần triển khai để thực hiện thành công Hiệp định; đã nhắc lại những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa hai nước, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, sẵn sàng phát triển sự hợp tác bình đẳng cùng với tất cả các quốc gia trên thế giới, vì hòa bình và phát triển. Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu với hành pháp “kịp thời báo cáo để Quốc hội có những quyết định thích hợp khi có những yếu tố mới nảy sinh trong quá trình thực hiện Hiệp định”.

Trong quá trình thẩm tra, rà soát các điều khoản, Ủy ban Đối ngoại nhận thấy có một số cam kết không đúng với quy định của luật pháp hiện hành mà Quốc hội đã không được thông báo kịp thời. Một số điều khoản khác lại ở mức cao hơn những quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) lúc bấy giờ. Những phát hiện này chỉ ra rằng, cần có quy định chặt chẽ hơn quá trình đàm phán các văn kiện, bảo đảm được tính kịp thời trong đàm phán, vừa phát huy được sức mạnh tổng hợp từ sự phối hợp đồng bộ giữa hành pháp với lập pháp. Điều này đã được thể chế hóa sau đó trong Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (14/6/2005) và Pháp lệnh Ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế (30/4/2007).

Ngoài các điều ước đa phương đã ký kết và gia nhập, nước ta đã ký kết với các nước nhiều điều ước và thỏa thuận song phương. Thành công của các chuyến đi thăm chính thức được đánh giá một phần bằng số văn kiện (và tầm quan trọng của chúng) được ký kết nhân chuyến đi. Điều này là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, các văn kiện này còn phải được thực hiện thực hiện có hiệu quả để giữ gìn uy tín của Nhà nước Việt Nam.

Từ suy nghĩ đó, Ủy ban Đối ngoại đã lấy giám sát việc thực hiện các điều ước song phương mà Việt Nam đã ký với các nước làm một nội dung trong hợp tác liên nghị viện để Quốc hội góp phần thúc đẩy hợp tác giữa nước ta với các nước. Cách làm này đã được Quốc hội Lào hoan nghênh. Trong các chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Quốc hội đến các nước Algeria, Morocco và Tuynidia (tháng 12/2005) và các nước Brazil, Argentina, Venuezuela (tháng 3/2006), Nghị viện các nước này nói rằng cách làm này rất cần thiết. Quan trọng hơn nữa là cách làm đó đã được thể chế hóa trong Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, Pháp lệnh Ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế.

Không chỉ có song phương. Hình thức “hợp tác ba bên” giữa Việt Nam, một nước trong cộng đồng Pháp ngữ và một bên thứ ba, Tổ chức Lương nông (FAO) chẳng hạn, mà Việt Nam đã triển khai trong khung khổ ACCT, cũng đã được Ủy ban Đối ngoại quan tâm, và giám sát việc thực hiện các điều ước ba bên đã ký kết (7/2005).

Trong các đoàn giám sát, Ủy ban Đối ngoại mời đại biểu Quốc hội ở các địa phương có liên quan, và trong chừng mực có thể, HĐND các địa phương có ký kết hợp tác với các tỉnh địa phương bạn, tham gia. Qua đó thúc đẩy hợp tác giữa các tỉnh, vùng được gọi là hợp tác phi tập trung.

Cũng với tinh thần giám sát các điều ước đã ký kết, tháng 3/2003, được sự đồng ý của Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Đối ngoại đã tổ chức cuộc hội thảo “Nhìn lại năm đầu tiên thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ”. Hội thảo đã được đánh giá là có ích và công phu. Nhiều đại biểu cho rằng sự điều hành chưa ngang tầm với tầm quan trọng và tính cấp thiết của những vấn đề mà Hiệp định đặt ra, cũng như tiến trình thực hiện các nhiệm vụ mà Nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội đề ra là chậm. Luật pháp bảo hộ kinh tế của Việt Namcòn rất mỏng, sơ lược và không đồng bộ, cần được Quốc hội sớm bổ sung. Bên cạnh đó, cần ban hành các chính sách nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước sớm có đủ sức để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong môi trường kinh tế mà BTA mở ra, cơ chế chậm được đổi mới và chậm được luật hóa, chính là “ta tự trói mình” và “cơ chế nào, doanh nghiệp nấy”, có đại biểu nói.

Để tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, ngoài nỗ lực của bản thân các doanh nghiệp, cần nhanh chóng thành lập và đưa vào hoạt động các hiệp hội ngành hàng với vị trí pháp lý rõ ràng, được pháp luật thừa nhận.

Việc giải quyết tranh chấp theo quy định của Hiệp định trong hai hệ thống nhà nước và hai hệ thống luật pháp rất khác nhau, của Việt Nam và của Hoa Kỳ, là không đơn giản nếu chúng ta không muốn bị đặt vào vị thế phải tuân thủ luật pháp nước ngoài và chỉ có một chiều. Một thách thức lớn, đã được hội thảo nhấn mạnh nhiều, đó là sự hẫng hụt nghiêm trọng về cán bộ trong hệ thống tư pháp, đặc biệt rất thiếu các thẩm phán, luật sư (tư vấn và tranh tụng) về thương mại, luật pháp quốc tế. Cần đào tạo nhanh, nhiều nhưng phải bảo đảm có thực chất.

Hội thảo cũng cho rằng, đa phương hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, và bảo đảm sự hài hòa giữa các thị trường lớn là những điều kiện cần để chủ động trong hội nhập kinh tế.

GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/15-nam-hoat-dong-doi-ngoai-nghi-vien-hoi-uc-va-nhin-ve-tuong-lai-bai-2-giam-sat-thuc-hien-cac-dieu-uoc-song-phuong-thuc-day-hop-tac-giua-viet-nam-va-cac-nuoc-10402437.html