15 năm hoạt động đối ngoại nghị viện, hồi ức và nhìn về tương lai: Bài cuối: Đối ngoại nghị viện tiếp tục đóng góp sâu rộng trong thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước
Hoạt động đối ngoại của Quốc hội Việt Nam trong những năm qua đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc đổi mới của Quốc hội và của đất nước. Kênh đối ngoại nghị viện cần tiếp tục tự khẳng định và đóng góp ngày càng sâu rộng hơn trong việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong tình hình thế giới hiện nay và sắp tới.
Hội nhập kinh tế quốc tế
Khi tổ chức hội thảo về BTA, Ủy ban Đối ngoại còn nhằm tự trang bị thêm những hiểu biết cần thiết cho một điểm hẹn khác: gia nhập WTO. Việt Nam gia nhập WTO là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới ngày càng được toàn cầu hóa. Việc gia nhập là tất yếu, xét dưới góc độ phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, và nó bao hàm cả thời cơ lẫn thách thức đan quyện nhau.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An hội đàm với Chủ tịch Hạ viên Algeria ngày 17/12/2005. Ảnh: Tư liệu
Bên cạnh nỗ lực lớn lao trong gần 2 năm của Quốc hội để xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi cho quá trình đàm phán đa phương và song phương về việc kết nạp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong Nghị quyết về chương trình giám sát năm 2004, đã giao cho Ủy ban Đối ngoại, phối hợp với các cơ quan của Quốc hội có liên quan, tiến hành giám sát quá trình đàm phán việc gia nhập WTO.
Được sự cộng tác nhiệt thành của các Bộ ngành và Ủy ban hợp tác kinh tế quốc tế của Chính phủ, tháng 1/2005, một báo cáo đã được trình với lãnh đạo Quốc hội, và theo ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, đã được gửi đến một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Báo cáo “đã được chuẩn bị rất công phu (…) và xin chân thành cảm ơn anh chị bên Quốc hội quan tâm tới công việc hết sức hệ trọng và cực kỳ phức tạp này”.
Chủ tịch nước đã đề nghị Quốc hội xem xét việc phê chuẩn “Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Báo cáo thẩm tra số 2410/UBĐN ngày 27/11/2006, do Ủy ban Đối ngoại trình Quốc hội, còn nhấn mạnh sự cần thiết về: hiểu rõ các cam kết, các thuận lợi và khó khăn; xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể; cần được tổ chức thực hiện chẳng những, và trước hết, trong bộ máy nhà nước, mà còn trong cả hệ thống chính trị, trong cả xã hội.
Trong nhiệm vụ nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, ba nhiệm vụ “sau WTO”, vừa cơ bản, vừa cấp bách, là giải quyết tốt mối quan hệ nông nghiệp - nông dân - nông thôn, vấn đề nguồn nhân lực có tay nghề, và sự phân hóa giàu nghèo với sự gắn kết và đoàn kết dân tộc, đã được nhấn mạnh.
Về chính sách đối với kiều bào
Năm 1993, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08 và Ban Bí thư, Chỉ thị 55 về chính sách và công tác đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Từ thời điểm này, Quốc hội luôn thể hiện sự quan tâm đến “bộ phận không tách rời” này của dân tộc. Bên cạnh Luật Đầu tư nước ngoài, Quốc hội đã ban hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, trong đó có khuyến khích kiều bào đầu tư về nước. Các Luật Đất đai, Luật Quốc tịch, Bộ luật Dân sự, Luật Giáo dục, Luật Khoa học và công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ… đều có những điều khoản dành cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Tuy nhiên, nếu nhận thức “Cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận tách rời của dân tộc Việt Nam” đạt được sự thống nhất cao trong các cuộc họp, thì khi xây dựng các chính sách cụ thể, thể chế hóa thành luật, rồi từ điều khoản của Luật đến quy định trong các nghị định, thông tư hướng dẫn của các Bộ ngành, các địa phương, các cự ly hiện dần ra. Đó là điều mà tôi đã trực tiếp chứng kiến khi tham gia thảo luận các dự thảo luật, hoặc khi đối chiếu luật với không ít nghị định của Chính phủ và thông tư của các Bộ đã được ban hành.
Tại Nghị quyết 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị, trong "Phần IV. Tổ chức thực hiện", ở điểm 3, giao cho “Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Đảng Chính phủ, căn cứ vào nội dung Nghị quyết, xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy có liên quan đến người Việt nam ở nước ngoài”.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã giao cho Ủy ban Đối ngoại dự thảo “Kế hoạch của Ủy ban Thường vụ Quốc hội triển khai Nghị Quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Dự thảo được soạn thảo nêu rõ các chính sách đối với kiều bào cần được xác định cụ thể và thể chế hóa vào các văn bản pháp quy, ngay từ gốc là luật và các bộ luật. Các chính sách cần mang tính cộng đồng nhằm góp phần xây dựng cộng đồng người Việt ở nước ngoài đoàn kết, tương thân tương ái; cần có mối tương quan hợp lý giữa chính sách đối với kiều bào và đồng bào trong nước; khen thưởng, ưu đãi những người thực sự có công, có tài, nhằm tạo sự gắn kết trong và ngoài nước, đồng thời bảo đảm an ninh và ổn định chính trị, xã hội. Mặt khác, bằng những kênh thích hợp, tham khảo ý kiến của kiều bào về những dự thảo văn bản pháp quy có liên quan, và khai thác hiểu biết, kinh nghiệm của các chuyên gia người Việt ở nước ngoài về luật pháp quốc tế.
Theo tinh thần của Nghị quyết 36, sáu lĩnh vực đã được Dự thảo Kế hoạch nêu lên, có phân công cho các cơ quan của Quốc hội nghiên cứu việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng đối với người Việt Nam ở nước ngoài, và ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy hiện hành. Kế hoạch đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 5/10/2004, mang số 262/UBTVQH11.
Nhìn về tương lai
Hoạt động đối ngoại của Quốc hội Việt Nam trong những năm qua đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc đổi mới của Quốc hội và của đất nước. Quốc hội Việt Nam được các nước trong AIPA cũng như trong IPU công nhận là tích cực, sáng tạo, đúng với bối cảnh mới của thế giới.
Cho dù đã đạt những kết quả quan trọng, tôi nghĩ kênh đối ngoại nghị viện cần tiếp tục tự khẳng định, và đóng góp ngày càng sâu rộng hơn trong việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong tình hình thế giới hiện nay và sắp tới.
Một hình ảnh mang nhiều ý nghĩa đã được đưa lên khi Việt Nam chính thức được kết nạp là thành viên thứ 150 của WTO, ví “nền kinh tế nước ta như con thuyền trước chỉ đi trong sông, giờ đây ra biển cả”. Biển cả cách đây 20 năm khi chúng ta gia nhập WTO, là khá yên bình so với biển cả hiện nay và sắp tới.
Tiến bộ khoa học công nghệ, các cuộc cách mạng công nghiệp nối tiếp nhau, ngày càng nhanh, tạo tiền đề cho loài người sống sung túc hơn, nhưng đồng thời thúc đầy tham vọng khai thác, cải tạo thiên nhiên ngày càng quy mô, đôi khi bất chấp quy luật tự nhiên, tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái.
Biến đổi khí hậu, nước biển dâng từ sự ấm lên của khí hậu toàn cầu, tàn phá ngày càng khốc liệt. Đại dịch Covid-19 và những biến thể liên tiếp của virus, chẳng những làm thiệt mạng ngót 15 triệu người, mà còn làm đình trệ nền kinh tế thế giới, làm bộc lộ sự dễ tổn thương cao của toàn cầu hóa kinh tế. Sự phân hóa giàu nghèo giữa các quốc gia và trong lòng mỗi quốc gia không ngừng doãng ra.
Tất cả các thách thức nói trên không phải mới. Cái mới là chúng diễn ra hầu như cùng một lúc, tác động tổng hợp và liên hoàn lên nhau khiến cho thiệt hại là đa diện, và khó lường. Biến động và bất định là hai tính từ phản ánh chính xác tình hình thế giới hiện nay và trong thời gian tới.
Một quốc gia riêng lẻ không thể một mình đối diện thành công với các thách thức toàn cầu trên đây. Hơn bao giờ sự liên kết, đoàn kết là cần thiết. Hơn bao giờ, loài người cần điều chỉnh hành vi của mình đối với Thiên nhiên và Đồng loại. Hơn bao giờ các quốc gia cần ôn lại những bài học vì sao và từ đâu đã làm bùng nổ Thế chiến thứ hai để dập tắt mầm mống của cuộc Thế chiến tiếp theo, hủy diệt hơn nhiều, khi còn kịp. Hơn bao giờ sự hình thành một trật tự kinh tế thế giới công bằng và nhân văn hơn, hợp tác để cùng phát triển bền vững, vì hòa bình, hạnh phúc và thịnh vượng của nhân loại là khát vọng chính đáng của nhân dân thế giới.
Tôi tin rằng bản lĩnh của dân tộc sẽ giúp con tàu Việt Nam không bị sóng gió của biển cả dồi dập, mà được lèo lái đến nơi biển yên sóng lặng, ở đó “dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tôi mong và tin rằng đối ngoại Việt Nam, trong đó có đối ngoại nghị viện sẽ góp phần tích cực nhất có thể vào việc hiện thực hóa khát vọng nói trên của nhân loại.













