80 năm đồng hành cùng dân tộc - từ lá phiếu năm 1946 đến Quốc hội số năm 2026

Quốc hội Việt Nam ra đời từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6/1/1946, đánh dấu mốc son dân chủ sau thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong chặng đường lịch sử vẻ vang 80 năm qua, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đã luôn đồng hành cùng dân tộc qua các giai đoạn kháng chiến chống ngoại xâm, thống nhất đất nước và công cuộc đổi mới, thông qua nhiều bản Hiến pháp then chốt và đạo luật quan trọng.

Từ nền dân chủ đầu tiên năm 1946 đến hành trình lập pháp xây dựng nhà nước pháp quyền

Các sự kiện nổi bật nhất trong từng thời kỳ lịch sử phát triển của Quốc hội Việt Nam được khởi đầu bằng cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, ngày 6/1/1946, khẳng định nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á và việc thông qua Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên, tạo lập căn cứ pháp lý đầu tiên cho chế độ chính trị mới của đất nước, thiết lập bộ máy nhà nước thống nhất để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cũng trong nhiệm kỳ Khóa I, Quốc hội đã ban hành bản Hiến pháp năm 1959, đánh dấu giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước.

Ngày 2/3/1946, Quốc hội Khóa I họp Kỳ họp thứ Nhất, cử Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên thệ trước Quốc hội. Ảnh: TTXVN

Ngày 2/3/1946, Quốc hội Khóa I họp Kỳ họp thứ Nhất, cử Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên thệ trước Quốc hội. Ảnh: TTXVN

Với Đại thắng mùa Xuân năm 1975, non sông thu về một mối, chúng ta tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên sau khi nước nhà thống nhất, ngày 25/4/1976, để bầu ra Quốc hội Khóa VI. Đây là giai đoạn gắn với sự ra đời của Hiến pháp 1980, đánh dấu thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Tiếp đó là các Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, và Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), phản ánh giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ của đất nước, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời nhấn mạnh quyền con người, quyền công dân và hội nhập quốc tế.

Với các bản Hiến pháp và hàng trăm đạo luật, nghị quyết quy phạm pháp luật được thông qua trong 15 nhiệm kỳ, Quốc hội đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, phục vụ cho từng giai đoạn cách mạng của đất nước, từ những ngày kháng chiến kiến quốc đến thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế cũng như giai đoạn phát triển mới của đất nước hiện nay. Hệ thống pháp luật đó đã tác động sâu rộng tới sự phát triển của kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thể, từ công cuộc cải cách ruộng đất, giải phóng lực lượng sản xuất đến các đổi mới mạnh mẽ về tư duy kinh tế, thúc đẩy hình thành các loại thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, tạo cơ sở pháp lý để định hình nền kinh tế của giai đoạn đó.

Số lượng các đạo luật được Quốc hội ban hành có sự tăng vọt cả về chất và lượng, từ 29 luật trong 7 khóa đầu tiên lên đến hàng chục, hàng trăm đạo luật trong những nhiệm kỳ gần đây với kỷ lục là tại Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XV đã thông qua 51 luật, 39 nghị quyết, trong đó có 8 nghị quyết quy phạm pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, củng cố và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đất nước.

Đúng như phát biểu bế mạc Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XV của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, đó là Quốc hội đã “chủ động đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật, kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng thành pháp luật, khẳng định vai trò tiên phong đi trước một bước về thể chế…”.

Từ lập pháp phục vụ phát triển kinh tế đến đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Với số lượng kỷ lục các luật và nghị quyết quy phạm pháp luật được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ Mười, chiếm gần 30% tổng số luật và nghị quyết quy phạm được ban hành của cả nhiệm kỳ Khóa XV, trong đó có việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, đã phản ánh nỗ lực phi thường trong việc hoàn thiện thể chế, pháp luật cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong kỷ nguyên mới, với yêu cầu đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế mới, kinh tế số và hội nhập quốc tế.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu bế mạc Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XV. Ảnh: Phạm Thắng

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu bế mạc Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XV. Ảnh: Phạm Thắng

Cùng với các đạo luật quan trọng về lĩnh vực kinh tế được sửa đổi, bổ sung và ban hành, Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật then chốt về khoa học công nghệ và chuyển đổi số tại kỳ họp cuối cùng của nhiệm kỳ Khóa XV, tạo khung pháp lý hoàn chỉnh để thúc đẩy hình thành quốc gia số và đổi mới sáng tạo, tập trung vào các lĩnh vực mới, như hạ tầng số, trí tuệ nhân tạo (AI), cơ sở dữ liệu, an ninh mạng, an toàn thông tin, công nghệ cao và mối liên kết giữa viện nghiên cứu - doanh nghiệp.

Trong đó có những đạo luật, như: Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định hoạt động khoa học công nghệ, chính sách hỗ trợ liên kết viện nghiên cứu - doanh nghiệp và nội địa hóa công nghệ, ưu tiên doanh nghiệp công nghệ cao, khởi nghiệp sáng tạo qua cơ chế đặc thù và quỹ đầu tư, là nền tảng pháp lý đột phá để nâng cao năng suất tổng hợp quốc gia. Luật Chuyển đổi số lần đầu luật hóa khái niệm chuyển đổi số quốc gia với người dùng là trung tâm, quy định chính sách hạ tầng số thống nhất, dịch vụ đám mây, an ninh mạng và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Luật Công nghệ cao (sửa đổi) ưu tiên phát triển công nghệ chiến lược, như bán dẫn, AI với ưu đãi cao nhất về đất đai, thuế, mở rộng danh mục sản phẩm công nghệ cao, nhấn mạnh vai trò công nghệ cao trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Luật Công nghiệp công nghệ số tạo nền tảng pháp lý thúc đẩy phát triển công nghiệp bán dẫn, AI, tài sản số… Việc ban hành những đạo luật này bảo đảm đồng bộ với Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, tạo động lực mạnh mẽ để khoa học công nghệ dẫn dắt tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.

Từng vinh dự là đại biểu Quốc hội hai khóa liên tục, XII và XIII, tôi thấu hiểu trách nhiệm cao cả, thiêng liêng của người đại biểu nhân dân, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của cử tri và Nhân dân khi tham gia thảo luận, biểu quyết thông qua các luật, nghị quyết và chính sách quan trọng, bảo đảm tính dân chủ và nguyên tắc luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết. Các đại biểu luôn phải nghiên cứu tài liệu thật kỹ lưỡng, chăm chú lắng nghe ý kiến đa chiều, tiếp nhận phản biện từ Nhân dân để đóng góp xây dựng luật pháp phù hợp với thực tiễn phát triển, sát với tình hình, từ đó đưa ra những quyết định tối ưu, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, thể hiện đúng ý chí của Nhân dân.

Các đại biểu Quốc hội tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, trợ lý ảo cùng nhiều phần mềm hỗ trợ khác trong thực hiện nhiệm vụ lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Ảnh: Phạm Thắng

Các đại biểu Quốc hội tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, trợ lý ảo cùng nhiều phần mềm hỗ trợ khác trong thực hiện nhiệm vụ lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Ảnh: Phạm Thắng

Với thành quả và kinh nghiệm rực rỡ được kế thừa qua 15 nhiệm kỳ, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng chắc chắn rằng, các đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ Khóa XVI và các nhiệm kỳ tiếp theo sẽ luôn thể hiện khát vọng cống hiến, liêm chính, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, dám đổi mới, sáng tạo, không ngừng nâng cao chất lượng công tác lập pháp, giám sát, dám chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết đáp của mình với tinh thần “phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân” như 80 năm qua.

Đặc biệt, trong bối cảnh Đảng ta tiếp tục xác định thể chế là một trong ba đột phá chiến lược, thì trọng trách ấy càng trở nên cao cả và nặng nề. Như nhấn mạnh của Tổng Bí thư Tô Lâm trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 15 Khóa XIII, đó là: “Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển; đẩy mạnh phân cấp phân quyền; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển năng lực sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới”.

80 năm với 15 khóa hoạt động, Quốc hội Việt Nam đã trở thành biểu tượng cho ý chí của Nhân dân, với hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn chỉnh, thúc đẩy và tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho những bước phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn cách mạng mới.

TS. Trần Văn - ĐBQH Khóa XII, XIII

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/80-nam-dong-hanh-cung-dan-toc-tu-la-phieu-nam-1946-den-quoc-hoi-so-nam-2026-10402426.html