Âm nhạc cổ truyền cần một hệ thống thuật ngữ thống nhất
Tọa đàm tại Nhạc viện TP.HCM bàn về chuẩn hóa thuật ngữ âm nhạc cổ truyền Việt Nam, bảo đảm tính khoa học và tôn trọng bản sắc vùng miền.

Các đại biểu chia sẻ tại tọa đàm
Ngày 13.10, tại Nhạc viện TP.HCM, Viện Âm nhạc (Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) phối hợp với Nhạc viện TP.HCM tổ chức tọa đàm khoa học “Thuật ngữ về âm nhạc cổ truyền vùng Nam Bộ Việt Nam: Khái niệm và thực tiễn vận dụng”. TS Phạm Minh Hương, Viện trưởng Viện Âm nhạc chủ trì tọa đàm.
Tọa đàm thuộc nhiệm vụ Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất xây dựng tiêu chuẩn thuật ngữ về âm nhạc cổ truyền Việt Nam”.
Các đại biểu tập trung trao đổi về cách nhận diện, phân loại và xác định nội hàm các thuật ngữ đang được sử dụng trong thực hành âm nhạc cổ truyền ở Nam Bộ, làm cơ sở cho việc xây dựng dự thảo tiêu chuẩn thuật ngữ âm nhạc cổ truyền Việt Nam.
Chuẩn hóa thuật ngữ từ thực tiễn
Phát biểu tại tọa đàm, TS Phạm Minh Hương, Viện trưởng Viện Âm nhạc cho biết việc xây dựng hệ thống thuật ngữ âm nhạc cổ truyền là công việc được giới nghiên cứu quan tâm trong nhiều năm. Hiện nay, các khái niệm và thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu, thực hành âm nhạc cổ truyền vẫn còn những cách hiểu khác nhau, chưa có sự thống nhất.

TS Phạm Minh Hương, Viện trưởng Viện Âm nhạc (Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) phát biểu
Theo TS Phạm Minh Hương, việc chuẩn hóa thuật ngữ theo các tiêu chí của hoạt động tiêu chuẩn hóa quốc gia là cần thiết, góp phần tạo cơ sở thống nhất cho nghiên cứu, đào tạo, truyền dạy và thực hành âm nhạc cổ truyền Việt Nam.
Tọa đàm được tổ chức nhằm tiếp nhận ý kiến từ các nhà khoa học, giảng viên, nghệ nhân, nghệ sĩ và những người trực tiếp thực hành, đặc biệt đối với hệ thống thuật ngữ trong các thể loại âm nhạc cổ truyền Nam Bộ.
Các ý kiến tại tọa đàm sẽ được tổng hợp, phân tích để xác định chính xác hơn nội hàm của từng thuật ngữ, đồng thời đề xuất những thuật ngữ phù hợp đưa vào danh mục dự thảo tiêu chuẩn.
TS.NSND Đỗ Quốc Hưng, Giám đốc Nhạc viện TP.HCM, cho biết Nhạc viện sẵn sàng phối hợp với Viện Âm nhạc nhằm bảo đảm các yêu cầu khoa học của chương trình. Đây cũng là dịp để những người nghiên cứu và thực hành âm nhạc cùng trao đổi về các vấn đề đang đặt ra trong quá trình bảo tồn, phát huy âm nhạc truyền thống.

Biểu diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ tại TP.HCM, loại hình nghệ thuật được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại từ năm 2013
Một trong những nội dung được quan tâm là hệ thống thuật ngữ dân gian trong Đờn ca tài tử Nam Bộ. TS Mai Mỹ Duyên, giảng viên Đại học Trà Vinh cho rằng ngôn ngữ thực hành của nghệ nhân là thành tố quan trọng cấu thành tri thức của loại hình âm nhạc này.
Những từ như “rao”, “thúc”, “mở”, “nhấn non”, “nhấn già”, “rớt nhịp”, “đâm hơi”,… xuất phát từ ngôn ngữ đời sống, được cộng đồng sử dụng theo những quy ước riêng trong quá trình diễn tấu. Các thuật ngữ phản ánh cách cảm nhận âm thanh, kỹ thuật xử lý giai điệu và kinh nghiệm truyền dạy được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Theo TS Mai Mỹ Duyên, hệ thống từ ngữ này không phải những cách gọi rời rạc mà hình thành một ngôn ngữ thực hành có tính logic, gắn với đặc điểm diễn tấu của từng nhạc cụ, nhất là đàn kìm và guitar phím lõm. Các khái niệm về “lòng bản”, cấu trúc bài bản cũng thể hiện mối quan hệ giữa khuôn thức âm nhạc và khả năng ứng tác của nghệ nhân.

TS Mai Mỹ Duyên chia sẻ về hệ thống thuật ngữ dân gian trong Đờn ca tài tử Nam Bộ
Tuy nhiên, khi Đờn ca tài tử được đưa vào chương trình đào tạo tại các cơ sở âm nhạc chuyên nghiệp, việc chuyển tải những thuật ngữ dân gian sang môi trường học thuật đặt ra không ít thách thức.
Nếu chỉ sử dụng thuần túy các thuật ngữ âm nhạc học phương Tây, chúng ta dễ làm “xơ cứng” và mất đi cái “hồn cốt”, độ luyến láy tinh tế vốn có của âm nhạc truyền thống. Ngược lại, nếu không có sự diễn giải và chuẩn hóa khoa học, hệ thống từ ngữ dân gian sẽ khó tiếp cận với thế hệ người học trẻ tuổi và công tác lưu trữ di sản văn hoá.
Từ thực tế đó, chuyên gia đề xuất xây dựng mô hình ứng dụng song hành (chuyển ngữ đối chiếu thuật ngữ dân gian – âm nhạc học), đưa bộ ký hiệu vi âm vào giáo trình và thiết lập môn học chuyên đề tại các Nhạc viện, các Trường Văn hóa - Nghệ thuật nhằm rút ngắn khoảng cách giữa môi trường hàn lâm và thực hành dân gian.
Song song đó, đẩy mạnh chiến lược số hóa (ngân hàng dữ liệu đa phương tiện, ứng dụng di động tra cứu), bảo tồn di sản sống tại các lò đàn truyền thống và lan tỏa giá trị tri thức dân gian trên các nền tảng truyền thông mới.

Một tiết mục biểu diễn của Khoa Âm nhạc truyền thống, Nhạc viện TP.HCM
Tôn trọng sự đa dạng vùng miền
Bàn về tiêu chí xây dựng thuật ngữ âm nhạc cổ truyền Việt Nam, nhà nghiên cứu Lê Hải Đăng đề xuất 6 yêu cầu gồm tính học thuật, tính chính xác, tính lịch sử, tính đa dạng, tính bao dung và tính kế thừa. Theo đó, thuật ngữ cần có khả năng kiểm chứng trong thực tế, được giải thích rõ ràng, đồng thời phản ánh quá trình hình thành và biến đổi của âm nhạc qua thời gian.
Đáng chú ý, tính đa dạng và tính bao dung được đặt ra nhằm tránh việc áp dụng một cách hiểu duy nhất cho những thực hành âm nhạc có nguồn gốc, môi trường tồn tại và đặc điểm cộng đồng khác nhau.
Theo nhà nghiên cứu Lê Hải Đăng, việc lựa chọn thuật ngữ cần quan tâm đến âm nhạc trong các không gian tín ngưỡng, từ đình, chùa đến miếu, phủ, cũng như âm nhạc của cộng đồng người Hoa.

Nhạc sĩ Kiều Tấn đề xuất làm rõ một số nhóm thuật ngữ liên quan đến bài và bản, thể điệu... trong Đờn ca tài tử
Nhà nghiên cứu, nhạc sĩ Kiều Tấn đề xuất làm rõ một số nhóm thuật ngữ liên quan đến bài và bản, thể điệu, tác giả và soạn giả, tài tử ca và tài tử đờn, dàn đờn, dàn nhạc, ban nhạc, hòa đờn, hòa ca… Các cách gọi về nhịp, dây đàn và giọng đàn cũng cần được xem xét để xác định phạm vi sử dụng, tránh nhầm lẫn giữa tên gọi, cấu trúc âm nhạc và kỹ thuật thực hành.

NSND Hữu Danh chia sẻ
Từ kinh nghiệm dàn dựng sân khấu cổ truyền, NSND Hữu Danh bổ sung các thuật ngữ liên quan đến nói lối, như lối xuân, lối ai, lối xóc, cùng những cách diễn đạt về sắc thái âm nhạc như phán, oán. Những thuật ngữ này gắn với cách thể hiện tâm trạng, tính chất nhân vật và đặc điểm diễn xướng, do đó cần được giải thích trong mối liên hệ với thực tiễn sân khấu.
TS Bùi Thị Hoa, Phân Viện trưởng Phân viện VHNTTTDL miền Nam lưu ý Nam Bộ là không gian văn hóa đa tộc người, có sự hiện diện của cộng đồng người Việt, Khmer, Hoa, Chăm và các cộng đồng khác. Vì vậy, nghiên cứu thuật ngữ âm nhạc cần tính đến đặc điểm văn hóa của từng cộng đồng, đồng thời phân biệt thuật ngữ bản địa được sử dụng trong thực hành với thuật ngữ do giới nghiên cứu xây dựng.

TS Bùi Thị Hoa phát biểu
Theo TS Bùi Thị Hoa, tiếp cận từ góc độ di sản và lấy thuật ngữ bản địa làm trục chính có thể giúp việc nhận diện, giải thích các khái niệm gắn chặt hơn với môi trường văn hóa đã hình thành nên chúng.
TS.NSƯT Nguyễn Thị Hải Phượng, Trưởng Khoa Âm nhạc truyền thống Nhạc viện TP.HCM đề xuất xây dựng bộ thuật ngữ theo từng vùng, tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu và người thực hành cùng đóng góp, sau đó tiến hành chọn lọc, đối chiếu và giải thích.
Theo bà, việc xây dựng hệ thống thuật ngữ cần bảo đảm tính chính xác, ổn định, có cơ sở lịch sử, đồng thời chấp nhận sự đa dạng trong cách gọi giữa các vùng miền.

TS.NSƯT Nguyễn Thị Hải Phượng chia sẻ tại tọa đàm
NNND Thanh Tuyết bày tỏ mong muốn công trình sớm được triển khai và hoàn thiện, qua đó tạo căn cứ cho người giảng dạy hướng dẫn học viên thông qua tài liệu, sách vở.
Từ các tham luận và ý kiến trao đổi, có thể thấy yêu cầu xây dựng hệ thống thuật ngữ âm nhạc cổ truyền không chỉ nằm ở việc thống nhất cách gọi, mà còn ở khả năng lưu giữ tri thức thực hành, giải thích những đặc điểm riêng của từng loại hình và tạo cơ sở cho việc truyền dạy qua các thế hệ.

Biểu diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ trong chương trình "Trên bến dưới thuyền" tại bến Bình Đông, TP.HCM
Theo Ban tổ chức, những ý kiến này sẽ được nhóm thực hiện đề tài tiếp tục tổng hợp, phân tích và nghiên cứu để phục vụ quá trình biên soạn dự thảo tiêu chuẩn thuật ngữ âm nhạc cổ truyền Việt Nam.
Việc xây dựng hệ thống thuật ngữ trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đồng thời tôn trọng ngôn ngữ của cộng đồng thực hành, được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu, đào tạo và bảo tồn di sản âm nhạc truyền thống.

