An Giang: Một chuyến đi nhiều cảm xúc về Sư đoàn 330

Đây là lần đầu tiên tôi được thăm Sư đoàn 330, quả đấm thép của lực lượng vũ trang Quân khu 9 cùng với 30 văn nghệ sĩ Liên Hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang, thuộc các chuyên ngành: Văn học, nhiếp ảnh, nhạc, sân khấu,….thực hiện chuyến đi thực tế viết bài Kỷ niệm 50 năm thành lập Sư đoàn 330 (21/9/1976 – 21/9/2026).

Tác giả trong chuyến đi thực tế sáng tác tại Sư đoàn bộ binh 330

Tác giả trong chuyến đi thực tế sáng tác tại Sư đoàn bộ binh 330

Chuyến đi thực tế sáng tác do nhà thơ Trần Sang, Phó Chủ tịch Liên Hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật làm trưởng đoàn. Với tôi, chuyến đến thăm Sư đoàn lần này không đơn thuần là một chuyến tác nghiệp báo chí, mà còn là một chuyến đi để thấu cảm, thâu nhận về sự trưởng thành của một đơn vị được coi là “quả đấm thép” khiến kẻ thù khiếp sợ ngay từ những ngày đầu thành lập.

Tại Sư đoàn bộ, sau khi được đồng chí Đại tá Hoàng Ngọc Hưởng, Phó Chính ủy Sư đoàn, đồng chí Lê Chí Đồng, Thượng tá, Chủ nhiệm Chính trị cùng một số đồng chí trong Sư đoàn đón tiếp, thông báo với đoàn văn nghệ sĩ về tình hình của Sư đoàn. Tại đây, tôi được biết Sư đoàn 330, Quân khu 9 được thành lập ngày 21/9/1976, đóng quân tại phường Chi Lăng (Phiên hiệu của sư đoàn kế thừa sư đoàn 330 gồm những cán bộ phân khu miền Đông Nam tập kết ra Bắc sau năm 1954 với nòng cốt là Trung đoàn 1 bộ binh vốn là trung đoàn U Minh, thành lập từ năm 1963 với ba lần được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Trung đoàn 2 bộ binh vốn là trung đoàn Đồng Tháp thuộc tỉnh đội Đồng Tháp được thành lập từ năm 1964, Trung đoàn 3 bộ binh vốn là trung đoàn Cửu Long thuộc tỉnh đội Trà Vinh thành lập từ năm 1968, Trung đoàn 4 pháo binh hình thành trên cơ sở các tiểu đoàn 10 và 11 pháo binh mặt đất và tiêu đoàn 12 cao xạ của quân khu 8,…). Sư đoàn biên chế, gồm: Phòng Tham mưu, Phòng Chính trị, Phòng Hậu cần - Kỹ thuật; Trung đoàn 1, Trung đoàn 20, Trung đoàn 3, Trường bắn Chi Lăng và các Tiểu đoàn, Đại đội trực thuộc. Đảng bộ Sư đoàn là đảng bộ cấp trên cơ sở, gồm 146 tổ chức đảng. Tổ chức quần chúng gồm có 14 Đoàn cơ sở, có 03 Đoàn cơ sở 3 cấp, 09 Đoàn cơ sở 2 cấp, 02 Chi đoàn cơ sở, 09 Liên chi đoàn và 106 chi đoàn; 02 Hội Phụ nữ cơ sở. Sau đó, đoàn văn nghệ sĩ chúng tôi được giới thiệu tham quan nhà truyền thống của Sư Đoàn. Bước chân trong phòng truyền thống của Sư đoàn, tôi cảm nhận rõ lịch sử không chỉ nằm trên những trang sách mà đang sống động trước mắt. Những lá cờ đơn vị, những tấm bản đồ tác chiến đã ngả màu thời gian, những khẩu súng, chiếc mũ, chiếc bi đông, chiếc ba lô,... tất cả đều kể lại một thời máu lửa.

Qua lời kể của người thuyết minh, tôi được biết, ngay từ khi thành lập, Sư đoàn gồm bốn trung đoàn chủ lực: Trung đoàn 1 U Minh, Trung đoàn 2 Đồng Tháp, Trung đoàn 3 Cửu Long và Trung đoàn 4 Pháo binh. Đó đều là những đơn vị đã trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trung đoàn 1 – Trung đoàn U Minh – tiền thân là Tiểu đoàn 309 từng lập nên những chiến công vang dội tại Đầm Dơi, Chà Là năm 1963, rồi Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 ở Vĩnh Long. Ba lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là minh chứng hùng hồn cho truyền thống ấy. Trung đoàn 2 – tiền thân Tiểu đoàn 261A – đơn vị làm nên chiến thắng Ấp Bắc lịch sử. Trung đoàn 3 – Trung đoàn Cửu Long – nổi tiếng với hai lần tập kích tiêu diệt Yếu khu Thầy Phó. Trung đoàn 4 Pháo binh được hình thành từ các tiểu đoàn pháo binh độc lập của Quân khu. Sau này, Trung đoàn 20 - đơn vị ba lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - cũng được điều về đội hình Sư đoàn. Nhìn lại đội hình ấy mới thấy vì sao Sư đoàn 330 nhanh chóng trở thành lực lượng chủ lực mạnh nhất của Quân khu 9.

Điều khiến tôi xúc động nhất là chỉ sau ba năm thành lập, ngày 20/12/1979, Sư đoàn đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ba năm - Một khoảng thời gian rất ngắn trong lịch sử của một đơn vị quân đội nhưng để có được danh hiệu cao quý ấy là biết bao máu xương của cán bộ, chiến sĩ đã đổ xuống trên biên giới Tây Nam. Tôi đứng thật lâu trước bức ảnh Chủ tịch Tôn Đức Thắng gửi lẵng hoa tặng Sư đoàn vào dịp Quốc khánh năm 1978. Lẵng hoa ấy không chỉ là món quà. Đó là sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước dành cho những người lính đang ngày đêm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Lịch sử không cho Sư đoàn nhiều thời gian nghỉ ngơi. Đêm 30/4/1977, khi nhân dân cả nước đang vui mừng kỷ niệm hai năm đất nước thống nhất thì tập đoàn phản động Pôn Pốt bất ngờ mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Những vụ thảm sát dã man ở Ba Chúc mãi mãi là vết thương không bao giờ lành trong ký ức dân tộc với 754 người dân vô tội bị sát hại, hơn một trăm ngôi nhà bị đốt, ruộng đồng tan hoang, tiếng khóc xé lòng. Ngay trong đêm, Sư đoàn 330 nhận lệnh cơ động ra biên giới. Không ai chần chừ, không ai lùi bước. Những đoàn xe nối dài xuyên đêm, những người lính trẻ lên đường với một quyết tâm duy nhất: bảo vệ nhân dân. Đó là phẩm chất đẹp nhất của Bộ đội Cụ Hồ.

Nếu phải chọn một trận đánh tiêu biểu nhất trong lịch sử Sư đoàn thì chắc chắn đó là chiến thắng núi Phú Cường. Đứng trước sa bàn mô phỏng trận đánh, tôi như được sống lại không khí căng thẳng của sáng ngày 19/1/1978. Theo lời kể của người thuyết minh, đúng 6 giờ 15 phút, pháo binh đồng loạt khai hỏa. Ba mươi phút sau, bộ binh cùng xe tăng, xe thiết giáp đồng loạt xung phong. Những mũi tiến công từ nhiều hướng nhanh chóng siết chặt vòng vây. Địch dựa vào địa hình hiểm trở và công sự kiên cố chống trả điên cuồng, nhưng những người lính Sư đoàn 330 vẫn từng bước đánh chiếm từng cao điểm. Đến 18 giờ cùng ngày, toàn bộ núi Phú Cường được giải phóng. Sau hơn mười hai giờ chiến đấu Sư đoàn đã làm nên kỳ tích: Loại khỏi vòng chiến đấu 1.215 tên địch, bắt sống 75 tù binh, thu 348 khẩu súng, 6 máy thông tin, phá hủy pháo 105 mm cùng nhiều vũ khí hạng nặng. Đó là trận hiệp đồng quân binh chủng quy mô cấp sư đoàn đầu tiên đạt hiệu suất chiến đấu rất cao của Quân khu 9. Chiến thắng ấy không chỉ đập tan âm mưu xâm lấn của Pôn Pốt mà còn khẳng định sức mạnh của quân đội Việt Nam trước dư luận quốc tế.

Người hướng dẫn kể rằng sau trận đánh, hiện trường được giữ nguyên suốt một tuần để các nhà báo trong và ngoài nước tới ghi hình, phản ánh tội ác xâm lược của Pôn Pốt. Tôi lặng người. Lịch sử có những thời khắc không cần lời bình.

Đoàn văn nghệ sĩ thăm Trung đoàn Bộ binh 3

Đoàn văn nghệ sĩ thăm Trung đoàn Bộ binh 3

Bước sang năm 1979, Sư đoàn nhận nhiệm vụ quốc tế đáp lời kêu gọi của nhân dân Campuchia và Sư đoàn trở thành mũi thọc sâu trên hướng chủ yếu của Quân khu 9. Những trận đánh nối tiếp những trận đánh: Bà Cò, Bà Ca, Núi Đất, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng, Sân bay Pô-chen-tông,… Ngày 7/1/1979, một phần Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng. Chế độ diệt chủng từng bước bị xóa bỏ. Tôi đặc biệt xúc động khi nghe kể rằng sau mỗi trận đánh, bộ đội Việt Nam lại chia từng bát cơm, từng viên thuốc cứu giúp nhân dân Campuchia. Họ vừa chiến đấu, vừa dựng trường học, huấn luyện quân đội bạn, giúp dân cày ruộng, chữa bệnh. Đó chính là vẻ đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh giặc để bảo vệ hòa bình, cầm súng nhưng luôn hướng tới cuộc sống tươi đẹp.

Tôi dừng rất lâu trước chiếc thắt lưng Mỹ được đồng chí Nguyễn Thanh Dũng, nguyên cán bộ Trung đoàn 1, thu được trong trận đánh năm 1972 tại Chương Thiện. Chiếc thắt lưng đã cũ, da đã sẫm màu, khóa đồng đã xỉn, nhưng giá trị lịch sử của nó thì không hề cũ. Nó nhắc nhớ một thời những người lính giải phóng chỉ với lòng yêu nước mãnh liệt đã đánh bại đội quân được trang bị hiện đại bậc nhất. Không chỉ có vậy, tôi còn thấy trong tủ kính, khẩu súng AK số hiệu 0796 lặng lẽ nằm đó. Đó là chiến lợi phẩm thu được trong trận tiến công Ki-ri-vông cuối năm 1977. Một khẩu súng, một kỷ vật, nhưng đằng sau nó là bao mồ hôi, máu và nước mắt của những người lính năm xưa. Ngoài ra, tôi còn thấy cờ 3 Tháp thu được tại Nhà Quốc hội Pôn Pốt, ngày 07/01/1979; dao găm thu được của Pôn Pốt trong trận tiến công đánh sân bay Pô-chen-tông (Campuchia) ngày 07/01/1979 và nhiều hiện vật khác nữa. Những hiện vật ấy như những nhân chứng không biết nói, mỗi lần nhìn vào đều khiến người xem đều bồi hồi xúc động khôn nguôi.

Thật tự hào khi Sư đoàn 330, trong quá trình chiến đấu, trưởng thành đã có nhiều vị  chỉ huy đã trở thành những tướng lĩnh, lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam. Sư đoàn có 42 đồng chí cán bộ phát triển thành tướng lĩnh trong Quân đội, 37 đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, như: Đại tướng Lê Đức Anh – nguyên Tư lệnh Quân khu; Đại tướng AHLLVTND Phạm Văn Trà – nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 9, – nguyên Ủy viên BCT, nguyên Bộ trưởng BQP; đồng chí Trung tướng Nguyễn Đệ - nguyên Tư lệnh QK9; đồng chí Trung tướng Phạm Hồng Lợi – nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN; đồng chí Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng – Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN; đồng chí Trung tướng Võ Văn Liêm – nguyên phó Chủ nhiệm UBKT QUTW; đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Thanh Dũng – nguyên Ủy viên thường trực UBKT QUTW; đồng chí Trung tướng Nguyễn Văn Gấu – Phó Chủ nhiệm TCCT QĐNDVN,...Đó là những tấm gương sáng để các thế hệ chiến sĩ của Sư đoàn 330 học tập và noi theo.

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế năm 1989, Sư đoàn trở về Tổ quốc. Một chặng đường mới lại bắt đầu không còn tiếng súng, không còn bom đạn, nhưng nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại vẫn nặng nề không kém. Đi trên thao trường hôm nay, tôi nhìn thấy những chiến sĩ trẻ miệt mài luyện tập. Những bước chạy dứt khoát, những động tác điều lệnh chuẩn xác, những bài bắn súng, vượt vật cản, huấn luyện hiệp đồng diễn ra khẩn trương. Những người lính trẻ chưa từng trải qua chiến tranh, nhưng họ đang tiếp nối một truyền thống được đánh đổi bằng biết bao sự hy sinh của cha anh, truyền thống được viết bằng máu và lòng trung thành của bao thế hệ.

Đồng chí Trung tá Phạm Hải Đăng, Trưởng Ban Tuyên huấn Sư đoàn 330, cho tôi biết, không chỉ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo trên địa bàn Quân khu, Sư đoàn còn phối hợp chặt chẽ với công an, chính quyền địa phương giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân, như: giúp địa phương khắc phục hậu quả lốc xoáy, chữa cháy rừng, xây nhà “Tình đồng đội”, đêm “Nghĩa tình đồng đội”, đắp đê bao, gặt lúa chạy lũ , khắc phục hậu quả sạt lở, “Người con hiếu thảo, nghĩa tình đồng đội”, thăm, tặng quà gia đình chính sách, hộ nghèo cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ, quỹ “Tình đồng đội”, “Đồng đội”, quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, phong trào “Hũ gạo quân dân”, chương trình “Ngôi nhà 100 đồng”, phong trào thi đua “Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 330 chung sức xây dựng nông thôn mới”,…. góp phần thắt chặt đoàn kết quân – dân, đi dân nhớ, ở dân thương trên địa bàn đóng quân.

Năm mươi năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, Sư đoàn đã đúc kết truyền thống: “Đoàn kết hiệp đồng - Khắc phục khó khăn - Tiến công nhanh - Đột phá mạnh - Ra quân là chiến thắng - Đánh là dứt điểm.” Đó không chỉ là khẩu hiệu. Đó là triết lý hành động. Là bản lĩnh. Là khí phách. Là phẩm chất của người lính Quân khu 9. Tôi chợt nghĩ, sức mạnh của một đơn vị quân đội không chỉ nằm ở số lượng vũ khí, trang bị hiện đại, mà còn nằm ở truyền thống, ở niềm tin, ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân và ở tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Với những chiến công và thành tích của mình, Sư đoàn 330 đã được Đảng, Nhà nước  tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân vào ngày 20/12/1979; được tặng thưởng 01 Huân chương Độc lập hạng Nhất, 03 Huân chương Quân công hạng Ba, 01 Huân chương Quân công hạng Nhì, 03 Huân chương Quân công hạng Nhất; 07 Quân chương Chiến công hạng Ba, 01 Quân chương Chiến công hạng Nhì, 01 Quân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì, hạng Ba, ... và nhiều phần thưởng cao quý khác; được Nhà nước Campuchia tặng thưởng 01 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất và 01 Huân chương Ăng - Co….

Rời Sư đoàn 330 khi nắng chiều dần buông xuống, trong tôi vẫn còn nguyên cảm giác bồi hồi khó tả. Tôi nhớ ánh mắt như có lửa của những chiến sĩ trẻ trên thao trường, lưng áo ướt đẫm mồ hôi nhưng mỗi động tác kỹ thuật chiến đấu nhanh gọn, dứt khoát và mạnh mẽ, nhớ những hiện vật đã nhuốm màu thời gian trong phòng truyền thống, nhớ những câu chuyện về Phú Cường, về Ba Chúc, về những ngày hành quân trên đất bạn Campuchia. Mỗi bước chân trên doanh trại hôm nay như đang đi trên những lớp trầm tích lịch sử được bồi đắp bằng lòng yêu nước, sự hy sinh và tinh thần quốc tế trong sáng của bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 330.

Có lẽ, điều quý giá nhất mà chuyến đi mang lại không chỉ là những tư liệu phục vụ nghề báo, mà còn là một niềm tin sâu sắc hơn vào sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ những chiến công oanh liệt trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nghĩa vụ quốc tế cao cả tại Campuchia đến những thành tích nổi bật trong thời bình, Sư đoàn 330 luôn chứng minh vì sao đơn vị được mệnh danh là “Quả đấm thép của lực lượng vũ trang Quân khu 9”. Danh hiệu ấy không được tạo nên chỉ bằng những chiến thắng trên chiến trường mà còn được hun đúc từ lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; từ tinh thần đoàn kết, ý chí vượt mọi gian khó, sự sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ; từ truyền thống vẻ vang của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã viết nên bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương.

Đất nước hôm nay đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, nhưng những giá trị lịch sử ấy vẫn còn nguyên ý nghĩa. Chúng nhắc nhở mỗi người Việt Nam nói chung, người dân Miền Tây nói riêng, đặc biệt là thế hệ trẻ, phải biết trân trọng hòa bình, gìn giữ độc lập dân tộc và tiếp tục bồi đắp sức mạnh quốc phòng toàn dân. Với truyền thống “Đoàn kết hiệp đồng, khắc phục khó khăn, tiến công nhanh, đột phá mạnh, ra quân là chiến thắng, đánh là dứt điểm”, Sư đoàn 330 sẽ tiếp tục vững bước trên chặng đường xây dựng đơn vị “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, mãi xứng đáng là niềm tự hào của lực lượng vũ trang Quân khu 9 và là “thành đồng” bảo vệ vững chắc vùng đất Tây Nam thiêng liêng của Tổ quốc.

Trương Anh Sáng

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/an-giang-mot-chuyen-di-nhieu-cam-xuc-a35116.html