Áp lực chi phí vốn đẩy lãi suất cho vay vọt lên ngưỡng 10,7%/năm
Hiệu ứng dây chuyền từ đợt tăng lãi suất huy động khiến lãi suất cho vay bình quân tháng 8 vọt lên mức cao nhất 10,7%/năm. Đáng chú ý, số liệu khảo sát thực tế trên thị trường cho thấy chi phí vay vốn thậm chí còn cao hơn đáng kể so với con số công bố.
Theo số liệu vừa được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố, trong tháng 8, lãi suất cho vay bình quân của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước và nhóm cổ phần đối với các khoản vay mới cùng dư nợ cũ dao động trong khoảng 8,4 - 10,7%/năm, nhích tăng so với mức 8,3 - 10,5%/năm của tháng 7. Riêng lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức khoảng 4%/năm, chạm mức tối đa theo quy định hiện hành.

Lãi suất cho vay bình quân vọt lên tại nhiều ngân hàng do hiệu ứng dây chuyền khi lãi suất huy động tiền gửi tăng.
Ở chiều ngược lại, lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân có sự phân hóa lớn theo từng kỳ hạn. Các khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng dao động 0,1 - 0,2%/năm; kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,1 - 4,6%/năm. Ở kỳ hạn dài hơn, từ 6 tháng đến 12 tháng ghi nhận mức 6,5 - 8%/năm; kỳ hạn trên 12 tháng đến 24 tháng đạt 6,1 - 7,6%/năm, còn kỳ hạn trên 24 tháng neo ở mức 7,2 - 8,1%/năm. Cả hai kỳ hạn 6 - 12 tháng và trên 24 tháng đều tăng 0,2 điểm % so với tháng trước.
Tính đến ngày 21/9, hơn 20 ngân hàng thương mại đã công bố mức lãi suất cho vay bình quân áp dụng trong tháng 8, phản ánh rõ nét xu hướng tăng chiếm ưu thế.
Ghi nhận mức điều chỉnh tăng mạnh nhất là VIB khi cộng thêm 0,8 điểm %, đưa lãi suất cho vay bình quân lên 9,08%/năm, với mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động bình quân là 2,34 điểm %. Dù vậy, mức đỉnh thuộc về Techcombank với lãi suất cho vay bình quân lên tới 11,2%/năm, tăng 0,58 điểm % so với tháng trước.
Một danh sách dài các ngân hàng thương mại cổ phần cũng công bố con số bình quân vượt ngưỡng 10%/năm, bao gồm OCB với 10,94%/năm, BVBank: 10,8%/năm, Viet A Bank: 10,76%/năm, Vikki Bank: 10,51%/năm, BaoViet Bank: 10,5%/năm, TPBank: 10,47%/năm, HDBank: 10,4%/năm, PVcomBank: 10,25%/năm, LPBank: 10,19%/năm. Đây cũng là lần đầu tiên trong nhiều tháng qua, lãi suất của LPBank vượt qua ngưỡng hai chữ số.
Nhóm ghi nhận biên độ tăng từ 0,02 - 0,8 điểm % còn có Kienlong Bank, BIDV, MB, Eximbank, ACB, Saigonbank, Bac A Bank.
Trái ngược với xu hướng đi lên, một số đơn vị lại ghi nhận lãi suất cho vay bình quân giảm từ 0,01 -1,88 điểm %, gồm Agribank, MBV, Vikki Bank và GPBank. Trong đó, GPBank hạ mạnh nhất từ 11,34%/năm trong tháng 7 xuống còn 9,46%/năm trong tháng 8, kéo chênh lệch lãi suất cho vay và tiền gửi bình quân về mức 0,91%/năm.
Tại khối ngân hàng thương mại Nhà nước, Agribank giảm nhẹ 0,01 điểm % xuống 8,52%/năm, trong khi BIDV tăng 0,24 điểm % lên 7,59%/năm. Hai đơn vị còn lại là Vietcombank và VietinBank chưa công bố con số tháng 8, trước đó mức ghi nhận trong tháng 7 lần lượt là 7,4%/năm và 6,21%/năm.
Đại diện các ngân hàng cũng lưu ý, lãi suất công bố là con số tính toán bình quân, hoàn toàn không áp dụng đồng loạt mà phụ thuộc vào hồ sơ rủi ro, năng lực tài chính và tài sản thế chấp của từng khách hàng.
Mặc dù số liệu công bố đã ở mức cao, khảo sát thực tế trên thị trường cho thấy chi phí vốn khách hàng phải trả còn đắt đỏ hơn nhiều. Tại nhóm Big4, lãi suất cho vay thực tế đang dao động trong khoảng 9 - 10,5%/năm, còn tại các ngân hàng tư nhân, mức này có thể chạm trần 12%/năm. Việc lãi suất cho vay ngắn hạn với lĩnh vực ưu tiên chạm trần 4%/năm cũng đánh dấu lần đầu tiên sau nhiều năm, lãi suất này được áp dụng kịch khung.
Nhóm phân tích Công ty Chứng khoán SSI nhận định, mặt bằng lãi suất neo cao khiến các nhà băng dần dịch chuyển cơ cấu cho vay sang trung và dài hạn thay vì ngắn hạn. Nhu cầu vay mua nhà đang chững lại rõ nét khi lãi suất thả nổi ngoài thị trường phổ biến ở mức 12 - 14%/năm, khiến ngay cả những đơn vị có room tín dụng dồi dào và thế mạnh mảng này cũng gặp khó khăn trong giải ngân.
Vào giữa tháng trước, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các ngân hàng tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng và giảm thực chất lãi vay nhằm chia sẻ khó khăn với nền kinh tế. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất để giảm lãi vay là áp lực bảo vệ biên thu nhập lãi thuần (NIM) khi bài toán thanh khoản vẫn rất căng thẳng, có thời điểm mức chênh lệch giữa huy động và cho vay lên tới gần 2 triệu tỷ đồng.
Các chuyên gia từ Công ty Chứng khoán SSI và Yuanta Việt Nam đồng thuận nhận định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay khó có thể hạ nhiệt trong ngắn hạn, đặc biệt khi nhu cầu tín dụng thường tăng tốc vào cao điểm cuối năm. Ngoài ra, việc các ngân hàng trung ương trên thế giới nhiều khả năng phải neo giữ hoặc tiếp tục nâng lãi suất điều hành trước rủi ro lạm phát kéo dài sẽ tiếp tục phủ thêm áp lực lên mặt bằng lãi suất trong nước.



