Ba hướng định vị Việt Nam trong kiến trúc kinh tế toàn cầu

Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết Việt Nam hướng tới trở thành trung tâm công nghệ số mới nổi, năng lượng xanh và sản xuất nông nghiệp xanh, đồng thời củng cố năng lực tự chủ chiến lược giữa cạnh tranh giữa các cường quốc.

Tại cuộc đối thoại với ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 ngày 28/10 tại TP HCM, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh Việt Nam muốn xác lập vị thế rõ nét hơn trong kiến trúc kinh tế toàn cầu đang thay đổi.

Trả lời câu hỏi Việt Nam muốn đóng vai trò nào trong kiến trúc kinh tế toàn cầu đang định hình, người đứng đầu Chính phủ nêu ba định hướng. “Việt Nam mong muốn trở thành trung tâm công nghệ số mới nổi, năng lượng xanh, sạch và trung tâm sản xuất nông nghiệp xanh của khu vực và thế giới,” Thủ tướng nói.

Bên cạnh đó, Việt Nam quyết tâm trở thành một mắt xích quan trọng, đáng tin cậy trong chuỗi cung ứng và một cực tăng trưởng mới của toàn cầu. Đồng thời, Việt Nam hướng tới đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng khu vực và thế giới thông qua thể chế quản trị hiện đại, năng lực cạnh tranh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Theo ông, những định hướng này vừa phục vụ mục tiêu phát triển của Việt Nam, vừa thể hiện trách nhiệm đóng góp cho tăng trưởng và phát triển chung.

Đối thoại giữa Thủ tướng Lê Minh Hưng và ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới. Ảnh: BTC.

Đối thoại giữa Thủ tướng Lê Minh Hưng và ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới. Ảnh: BTC.

Ba lợi thế trong kiến trúc kinh tế toàn cầu mới

Lý giải cơ sở để hiện thực hóa các mục tiêu, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho rằng Việt Nam có ba nhóm lợi thế chính.

Trước hết là vị trí địa chiến lược, sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô, cùng triển vọng tăng trưởng tích cực. Trong bối cảnh thế giới biến động mạnh, ông đánh giá sự ổn định của Việt Nam là lợi thế quan trọng, bên cạnh vị trí tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi có hoạt động kinh tế năng động.

Việt Nam cũng có mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng mở và quan hệ kinh tế đa dạng với nhiều đối tác. Theo Thủ tướng, những yếu tố này tạo nền tảng để Việt Nam trở thành điểm hội tụ giữa các thị trường, chuỗi cung ứng, dòng vốn và hệ sinh thái công nghệ.

Ông cho rằng lợi thế này càng có ý nghĩa khi doanh nghiệp toàn cầu ngày càng quan tâm đến sự đa dạng, khả năng chống chịu và tính liên kết của các chuỗi giá trị.

Lợi thế thứ hai, theo Thủ tướng, là Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn chiến lược, mục tiêu lớn và quyết tâm hành động, đúng thời điểm kinh tế thế giới tái cấu trúc mạnh mẽ.

Khi dòng vốn và chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển theo hướng số hóa, xanh hóa và công nghệ cao, Việt Nam cũng đẩy mạnh đổi mới mô hình phát triển, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực. Chính phủ đồng thời thúc đẩy nâng cao năng lực doanh nghiệp, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và mở rộng không gian tăng trưởng và cũng cổ niềm tin dài hạn.

Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam đang ưu tiên cải cách thể chế, tạo điều kiện thuận lợi và áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù để kịp thời nắm bắt cơ hội phát triển. Theo ông, những cơ hội này có thể nhanh chóng trôi qua nếu Việt Nam không hành động kịp thời.

Với lợi thế của nền kinh tế đi sau, độ mở cao và khả năng thích ứng nhanh, Việt Nam có điều kiện tiếp thu công nghệ, mô hình tiên tiến, rút ngắn lộ trình phát triển và chuyển những dịch chuyển của kinh tế thế giới thành động lực đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Lợi thế thứ ba là nền tảng nội lực, gồm quy mô dân số hơn 100 triệu người, nguồn nhân lực dồi dào, truyền thống coi trọng giáo dục, khả năng học hỏi và thích ứng nhanh. Việt Nam cũng có nền sản xuất đã tham gia chuỗi giá trị toàn cầu trong nhiều năm, thị trường năng động và tiềm năng trong các lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế biển, khoáng sản chiến lược, năng lượng tái tạo và đa dạng sinh học.

Sự kết hợp giữa con người, năng lực sản xuất, thị trường và nguồn lực, theo Thủ tướng, tạo nền tảng để Việt Nam không chỉ tiếp nhận đầu tư, công nghệ mà còn tham gia tạo ra giá trị công nghệ và động lực tăng trưởng mới.

Giữ tự chủ chiến lược giữa cạnh tranh giữa các cường quốc

Sau phần trả lời Thủ tướng, ông Stephan Mergenthaler đặt vấn đề về cách Việt Nam duy trì tự chủ chiến lược, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng gia tăng. Giám đốc điều hành WEF nhận định Việt Nam có vị trí đặc biệt trong bối cảnh này và đề nghị người đứng đầu Chính phủ chia sẻ cách thức duy trì sự cân bằng trong quan hệ quốc tế.

Trả lời câu hỏi, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa và đa dạng hóa. Việt Nam tiếp tục là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc.

Theo Thủ tướng, tự chủ chiến lược trước hết là củng cố năng lực nội tại để giữ quyền tự quyết và chủ động lựa chọn cách thức hợp tác phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các đối tác.

“Việt Nam sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi,” ông nói.

Dù tình hình quốc tế biến động như thế nào, Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước. Thủ tướng cho rằng đây cũng là cơ sở để Việt Nam đóng góp chủ động, có trách nhiệm hơn vào các vấn đề chung của khu vực và quốc tế.

Để duy trì tự chủ chiến lược, Việt Nam cần dựa vào nội lực, nâng cao sức mạnh tự cường, đặc biệt là năng lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chính phủ sẽ tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển, thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời chú trọng bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh môi trường và an ninh con người.

Việt Nam cũng hướng tới đa dạng hóa các chuỗi cung ứng thiết yếu, nâng cao khả năng chống chịu trước biến động bên ngoài, song song với tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng. Thủ tướng cho biết Việt Nam đã ký kết 18 hiệp định thương mại tự do, tạo cơ sở mở rộng thị trường, đa dạng hóa đối tác và thu hút nguồn lực quốc tế về vốn, công nghệ và tri thức.

Tuy nhiên, mục tiêu không dừng ở việc tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam còn muốn nâng cao năng lực nội sinh, từng bước làm chủ công nghệ và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế.

Theo người đứng đầu Chính phủ Việt Nam, một nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định và vững chắc sẽ củng cố năng lực tự chủ, tự cường. Khi năng lực này được nâng cao, Việt Nam cũng có thêm điều kiện tham gia đóng góp cho hòa bình, ổn định khu vực và thế giới thông qua hợp tác quốc tế.

Hoàng Mi

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/ba-huong-dinh-vi-viet-nam-trong-kien-truc-kinh-te-toan-cau-61121.html