Bắc Ninh: Kiên cố kênh mương, khơi thông dòng chảy về ruộng đồng
Từ các nguồn vốn đầu tư, nhiều tuyến kênh mương tại các xã miền núi trong thành phố Bắc Ninh được cải tạo, nâng cấp, góp phần giảm thất thoát nước, giúp nông dân chủ động tưới, tiêu, nâng cao hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, tại một số địa bàn miền núi, hệ thống thủy lợi vẫn chưa đáp ứng nhu cầu, cần tiếp tục được quan tâm đầu tư.
Phát huy hiệu quả các công trình
Những ngày cuối tháng 9, dù thời tiết nắng nóng, ruộng ngô của gia đình bà Nguyễn Thị Đệ, thôn An Lập, xã Sơn Động vẫn có đủ nước tưới. Bà Đệ cho biết, trước đây, tuyến mương dẫn nước phục vụ sản xuất của thôn chủ yếu là mương đất. Qua nhiều năm sử dụng, không ít đoạn bị bồi lấp, sạt lở, nước thấm xuống đất khiến lượng nước về ruộng không ổn định. Vào mùa khô, những chân ruộng ở xa thường thiếu nước tưới, người dân phải mất nhiều công nạo vét, khơi thông dòng chảy. Từ tháng 3 năm nay, tuyến mương được sửa chữa, kiên cố hóa với chiều dài hơn 800 m, kinh phí 1,3 tỷ đồng. Nhờ đó, gia đình bà và các hộ trong thôn chủ động lấy nước tưới, bố trí thời vụ, giảm công sức nạo vét mương.

Người dân thôn An Lập, xã Sơn Động kiểm tra chất lượng tuyến kênh mương vừa được xây dựng.
Tại xã An Lạc, từ tháng 7/2025 đến nay, địa phương huy động hơn 8 tỷ đồng vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và nguồn vốn sự nghiệp địa phương để xây mới, cải tạo, nâng cấp hơn 4,5 km kênh mương. Đến nay, hơn 33 km kênh mương trên địa bàn xã được kiên cố hóa, đạt 63%, qua đó bảo đảm tưới, tiêu chủ động cho 268 ha giúp địa phương phát triển vùng sản xuất khoai tây thương phẩm tập trung, liên kết với doanh nghiệp; từng bước khắc phục tình trạng đất canh tác bị bỏ không do thiếu nước.
Từ tháng 7/2025 đến nay, xã Biên Sơn đầu tư hơn 3,6 tỷ đồng cải tạo, nâng cấp, kiên cố hóa 6 tuyến kênh mương nội đồng dài gần 2,7 km tại các thôn Xé Khuyên, Trại Mới, Hồng Sơn, Tuấn Sơn, Nến Bấu và Cãi. Hiện cả 6 tuyến đã hoàn thành, đưa vào sử dụng, phục vụ tưới, tiêu cho khoảng 250 ha đất canh tác. Hiện xã có hơn 14,4 km kênh mương được kiên cố hóa, đạt 65%.
Cùng với các địa phương trên, xã Kiên Lao cũng quan tâm đầu tư, sửa chữa hệ thống kênh mương tại những khu vực thường xuyên thiếu nước. Điển hình như tuyến mương dẫn nước từ đập Suối Nứa ra cánh đồng thôn Nóng được sửa chữa, hoàn thành trong quý IV/2025, phục vụ sản xuất vụ xuân năm 2026. Ông Trần Văn Thành, Bí thư Chi bộ thôn Nóng cho biết: “Thôn có 229 hộ, gần 100% là đồng bào dân tộc Sán Chí, thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Khi công trình được sửa chữa, việc dẫn nước về đồng ruộng thuận lợi hơn, giúp người dân yên tâm sản xuất”. Cùng đó, từ tháng 7/2025 đến nay, xã Kiên Lao đã duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng gần 2,2 km kênh mương tại các thôn Rừng Gai, Cống, Hà, Giữa và Nóng với tổng kinh phí hơn 2,7 tỷ đồng. Theo báo cáo của địa phương, các công trình đã hoàn thành, đưa vào sử dụng, phục vụ tưới, tiêu cho 31,5 ha đất canh tác.
Tăng nguồn lực đầu tư, ưu tiên khu vực cấp thiết
Theo Chi cục Thủy lợi (Sở Nông nghiệp và Môi trường), toàn thành phố hiện có hơn 12.282 km kênh mương. Những năm qua, từ nguồn ngân sách và các chương trình, dự án, nhiều công trình thủy lợi được cải tạo, nâng cấp. Tuy nhiên, ở một số xã miền núi, tỷ lệ kênh mương đất vẫn còn lớn, nhiều công trình xuống cấp, trong khi nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu.
Chương trình phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80% kênh mương được kiên cố hóa; 75% diện tích trồng lúa nước và cây hằng năm được tưới, tiêu chủ động.
Đơn cử, xã An Lạc còn gần 20 km kênh mương chưa được kiên cố hóa. Riêng thôn Kim Bảng, tỷ lệ mương đất chiếm khoảng 60%. Hay tại xã Kiên Lao, trong tổng số khoảng 25 km kênh mương thủy lợi, mới có 8,2 km được kiên cố hóa, đạt 32%. Phần lớn các tuyến còn lại là mương đất, dễ bị bồi lấp, thất thoát nước. Trong khi đó, đồng ruộng phân tán, địa hình phức tạp, nguồn kinh phí địa phương còn hạn chế nên việc đầu tư chưa thể thực hiện đồng bộ.
Tương tự, xã Biên Sơn còn khoảng 8 km kênh mương chưa được kiên cố hóa và 2,7 km kênh mương xây dựng từ lâu đã xuống cấp. Một số thôn chưa có hệ thống mương nội đồng, việc lấy nước phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Theo ông Lưu Anh Đức, Chủ tịch UBND xã Biên Sơn, việc kiên cố hóa kênh mương ở miền núi gặp nhiều khó khăn do địa hình chia cắt, đồng ruộng phân tán. Đặc biệt, khi mưa lớn, nước từ sườn đồi đổ xuống dễ gây xói lở nền móng, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công trình. Vì vậy, địa phương đề nghị thành phố tiếp tục bố trí kinh phí, ưu tiên những tuyến mương phục vụ khu vực thường xuyên thiếu nước, công trình xuống cấp và vùng sản xuất tập trung.
Trước thực tế đó, việc huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn để hoàn thiện hệ thống thủy lợi miền núi là yêu cầu cần thiết. Chương trình phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80% kênh mương được kiên cố hóa; 75% diện tích trồng lúa nước và cây hằng năm được tưới, tiêu chủ động. Đây là cơ sở để các địa phương tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng thủy lợi, phục vụ phát triển sản xuất.
Cùng với đầu tư xây dựng, công tác quản lý, khai thác và bảo dưỡng công trình cần được thực hiện thường xuyên. Sở Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương, đơn vị khai thác công trình thủy lợi rà soát khu vực có nguy cơ hạn hán, thiếu nước; sửa chữa công trình hư hỏng, nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy. Đồng thời, đánh giá toàn diện dung tích nước tại các hồ chứa, xây dựng phương án điều tiết, phân phối hợp lý, hạn chế thất thoát; chủ động bố trí trạm bơm dã chiến tại những khu vực có nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng.
Tại các xã miền núi, bên cạnh nguồn vốn hỗ trợ của cấp trên, chính quyền địa phương cần chủ động rà soát, lồng ghép các nguồn vốn và lựa chọn công trình cấp thiết để ưu tiên đầu tư như tại vùng sản xuất tập trung, khu vực canh tác cây trồng cho năng suất, chất lượng cao. Đồng thời, tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia bảo vệ công trình thủy lợi, thường xuyên duy tu, nạo vét, khơi thông dòng chảy, bảo đảm đưa nước về đồng ruộng phục vụ sản xuất.

