Bài 3: Từ thẩm định đến thực thi – lắng nghe để làm tốt hơn

Có nguồn lực, có đích đến, điều còn lại là cách tổ chức thực hiện. Nhìn lại hành trình từ hồ sơ thẩm định tháng 01/2026 đến báo cáo giám sát của Quốc hội tháng 9/2026, có thể thấy nhiều ý kiến đóng góp đã được lắng nghe và biến thành việc làm, đồng thời cũng lộ ra những khâu cần được tháo gỡ trong giai đoạn hợp nhất.

Chăn nuôi quy mô hộ gia đình – một trong những nội dung hỗ trợ sinh kế cần đến đúng người, đúng lúc. Ảnh: Hữu Nghị

Chăn nuôi quy mô hộ gia đình – một trong những nội dung hỗ trợ sinh kế cần đến đúng người, đúng lúc. Ảnh: Hữu Nghị

Một hồ sơ được góp ý rộng rãi

Chương trình được xây dựng trong thời gian ngắn nhưng nhận được sự góp ý rộng rãi. Theo Tờ trình số 82/TTr-VPĐP-KHTC ngày 31/01/2026 của Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương, chỉ một tháng sau khi lấy ý kiến, dự thảo Báo cáo nghiên cứu khả thi đã nhận được góp ý bằng văn bản của 25/25 bộ, ngành trung ương, 10 đơn vị thuộc Bộ và 33/34 tỉnh, thành phố. Ngày 28/01/2026, Hội đồng thẩm định họp; ba ngày sau, hồ sơ hoàn thiện được trình và Chương trình được phê duyệt tại Quyết định số 417/QĐ-BNNMT.

Nhiều đề xuất tại Hội đồng thẩm định đã được tiếp thu ngay. Trách nhiệm của Bộ Dân tộc và Tôn giáo trong tổng hợp, đề xuất phân bổ vốn cho Hợp phần thứ hai được bổ sung vào Quyết định. Nội dung đầu tư trường lớp, nhà bán trú cho học sinh dân tộc thiểu số theo đề xuất của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Giáo dục và Đào tạo được đưa vào. Các nội dung về bình đẳng giới, nâng cao chất lượng dân số cho các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, đề án tuyên truyền sản xuất nông sản an toàn của Hội Nông dân cũng được bổ sung.

Văn bản đi trước, sớm hơn kế hoạch

Một trong những ý kiến được Hội đồng thẩm định nhấn mạnh là hạn chế việc ban hành quá nhiều văn bản hướng dẫn, và phải có thời hạn hoàn thành. Bài học giai đoạn 2021-2025 còn đó: văn bản nhiều, chậm, khiến việc giải ngân, nhất là vốn sự nghiệp, bị kéo dài.

Lần này, kết quả đã khác. Theo Báo cáo giám sát số 589/BC-HĐDT16 ngày 30/9/2026 của Hội đồng Dân tộc, đến tháng 6/2026 hệ thống cơ chế, chính sách và hướng dẫn ở trung ương đã hoàn thành với 55 văn bản, sớm hơn khoảng một tháng so với tiến độ Chính phủ giao. Hội đồng Dân tộc đánh giá đây là kết quả của sự chỉ đạo quyết liệt và việc rút kinh nghiệm từ giai đoạn trước. Nghị định số 358/2025/NĐ-CP về cơ chế quản lý được ban hành ngay trong tháng 12/2025, cho thấy việc tham mưu chính sách đã được chuẩn bị từ trước khi Chương trình được phê duyệt.

Khâu nghẽn dịch chuyển sang phía sau

Khi khung pháp lý đã có, điểm nghẽn dịch chuyển sang những khâu tiếp theo, liên quan đến nhiều cơ quan và cả địa phương. Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ban hành ngày 15/4/2026; kế hoạch đầu tư công trung hạn được giao ngày 29/6; dự toán năm 2026 cho địa phương được giao ngày 14/7, sau đó tiếp tục bổ sung trong tháng 8 và tháng 9. Hội đồng Dân tộc nhận định điểm nghẽn của năm đầu “không chủ yếu nằm ở thiếu chủ trương hoặc thiếu cơ chế khung”, mà ở khoảng cách giữa ban hành chính sách và khả năng tổ chức thực hiện đến cấp cơ sở.

Vốn đối ứng là một ví dụ. Ngay tại Hội đồng thẩm định, vấn đề này đã được nêu ra, và cơ quan soạn thảo cam kết sẽ đề xuất tỷ lệ đối ứng thấp nhất cho các tỉnh khó khăn, tỷ lệ nghèo cao, đông đồng bào dân tộc thiểu số. Thực tế triển khai cho thấy áp lực vẫn còn: Quảng Ngãi phản ánh mức đối ứng 151% so với vốn trung ương là quá cao, Gia Lai phải đối ứng 1,25 lần. Theo Báo cáo số 817/BC-BTC ngày 02/10/2026 của Bộ Tài chính, đến cuối tháng 9 vẫn còn 11 địa phương chưa phân bổ vốn năm 2026, chủ yếu do chưa kịp ban hành tiêu chí, định mức và tỷ lệ đối ứng thuộc thẩm quyền. Hội đồng Dân tộc đã đề nghị Bộ Tài chính rà soát tính phù hợp của tỷ lệ này đối với các tỉnh miền núi.

Với giảm nghèo, chương trình đã lường trước tình huống chuyển giao chuẩn nghèo: năm 2026 tiếp tục dùng chuẩn giai đoạn 2022-2025, chuẩn mới theo Nghị định số 351/2025/NĐ-CP áp dụng từ năm 2027, để không tạo khoảng trống chính sách. Hội đồng Dân tộc đánh giá cách thiết kế này là kịp thời, đồng thời lưu ý cần có hướng dẫn tách biến động tỷ lệ nghèo do đổi chuẩn khỏi kết quả thực hiện chính sách.

Bài học cho giai đoạn hợp nhất

Ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16, hợp nhất bốn chương trình mục tiêu quốc gia và khẳng định việc hợp nhất không làm thu hẹp mục tiêu, đối tượng, quyền lợi đã được quyết định. Dự thảo Nghị định về chương trình hợp nhất đã được trình Chính phủ ngày 27/9/2026. Theo cơ quan điều phối, từ năm 2027 cơ chế sẽ khác: Bộ Tài chính trực tiếp tổng hợp và phân bổ nguồn lực, giảm bớt khâu trung gian. 

Những bài học của năm 2026 vì vậy rất có giá trị cho chặng đường tới. Hội đồng Dân tộc đề nghị từ năm 2027 coi “thời điểm nguồn lực đủ điều kiện để thực hiện” là một chỉ tiêu điều hành; giao mục tiêu và giao vốn đồng bộ, hạn chế chia nhiều đợt; mỗi vấn đề thực hiện theo nguyên tắc “một việc - một đầu mối - một thời hạn - một kết quả”. Đánh giá chương trình cũng không chỉ dựa vào tỷ lệ giải ngân, mà còn ở số người được thụ hưởng và kết quả đầu ra.

Trẻ em vùng cao Mộc Châu (Sơn La). Chương trình hợp nhất kỳ vọng mang lại cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho thế hệ tương lai. Ảnh: Hữu Nghị

Trẻ em vùng cao Mộc Châu (Sơn La). Chương trình hợp nhất kỳ vọng mang lại cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho thế hệ tương lai. Ảnh: Hữu Nghị

Nhìn lại cả loạt bài, nguồn lực xã hội dồi dào, mục tiêu rõ ràng và tinh thần lắng nghe từ cơ quan điều phối là nền tảng đáng trân trọng. Điều còn lại là rút ngắn khoảng cách từ văn bản đến cơ sở, để chương trình hợp nhất sớm tạo chuyển biến thực chất trong đời sống người dân nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi./.

HOÀNG DŨNG

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/bai-3-tu-tham-dinh-den-thuc-thi--lang-nghe-de-lam-tot-hon