Ban Bí thư quy định bộ máy đảng ủy cơ sở ban, cơ quan của Đảng ở Trung ương

Thay mặt Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú vừa ký ban hành Quy định số 219 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của đảng ủy cơ sở ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương.

Theo quy định mới được ban hành, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương chỉ đạo đảng ủy cơ sở ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương ban hành quy chế làm việc, cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác.

Đảng ủy quyết định chủ trương, định hướng và những vấn đề lớn thuộc thẩm quyền, lãnh đạo bằng nghị quyết, chỉ thị, quy định, kế hoạch, kết luận và thông qua công tác kiểm tra, giám sát phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đảng ủy; ủy quyền cho ban thường vụ đảng ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của đảng ủy phù hợp với đặc điểm, tình hình của đảng bộ...

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú chủ trì hội nghị Ban thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương hôm 7/9. Ảnh: Cổng TTĐT Đảng Cộng sản

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú chủ trì hội nghị Ban thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương hôm 7/9. Ảnh: Cổng TTĐT Đảng Cộng sản

Tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cụ thể hóa, tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Đảng ủy không làm thay công việc thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Các ban, cơ quan của Đảng ở Trung ương gồm: Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng.

Số lượng ủy viên ban chấp hành đảng bộ, ủy viên ban thường vụ, phó bí thư, ủy viên ủy ban kiểm tra đảng ủy theo quy định, hướng dẫn của Trung ương.

Cơ cấu đảng ủy gồm: đại diện lãnh đạo cơ quan; phó bí thư chuyên trách công tác đảng (nếu có); trưởng, một số phó cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng ủy; bí thư đoàn thanh niên; một số bí thư đảng ủy, chi bộ trực thuộc nơi có quy mô lớn, vị trí quan trọng và cơ cấu cần thiết khác.

Cơ cấu ban thường vụ đảng ủy gồm: cấp phó người đứng đầu ban, cơ quan là bí thư đảng ủy; 1 cấp phó của người đứng đầu cơ quan là phó bí thư thường trực đảng ủy; 1 phó bí thư đảng ủy chuyên trách (nếu có); trưởng các cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng ủy và một số cơ cấu khác (nếu có).

Thường trực đảng ủy gồm: bí thư và các phó bí thư.

Về tổ chức bộ máy, biên chế cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng ủy: Đảng bộ cơ sở có dưới 400 đảng viên không lập cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của đảng ủy, bố trí tối thiểu 2 cán bộ chuyên trách công tác đảng thuộc biên chế cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ của cơ quan.

Đảng bộ cơ sở có từ 400 đảng viên trở lên được lập 4 cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, gồm: văn phòng, ban tổ chức, ban tuyên giáo, cơ quan ủy ban kiểm tra.

Nếu cơ quan có từ 10 cán bộ chuyên trách công tác đảng trở lên thì lập cơ quan đảng ủy gồm: phó bí thư đảng ủy chuyên trách, cán bộ, công chức, người lao động ở các cơ quan tham mưu, giúp việc đảng ủy và đoàn thanh niên.

Biên chế cán bộ, công chức chuyên trách công tác đảng của cơ quan do cơ quan tự quyết định trong tổng biên chế của cơ quan.

Các đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương gồm: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam; Đài Truyền hình Việt Nam; Báo Nhân Dân; Tạp chí Cộng sản; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Số lượng ủy viên ban chấp hành đảng bộ, ủy viên ban thường vụ, phó bí thư, ủy ban kiểm tra đảng ủy theo quy định, hướng dẫn của Trung ương.

Cơ cấu cấp ủy gồm: người đứng đầu đơn vị, cấp phó người đứng đầu đơn vị; phó bí thư đảng ủy chuyên trách; người đứng đầu cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ của đơn vị; trưởng, một số phó các cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng ủy; bí thư đoàn thanh niên; một số bí thư đảng ủy, chi bộ trực thuộc có vị trí quan trọng trong đơn vị và cơ cấu cần thiết khác.

Cơ cấu ban thường vụ gồm: người đứng đầu đơn vị là bí thư đảng ủy; cấp phó của người đứng đầu đơn vị, trong đó có 1 phó bí thư thường trực đảng ủy; 1 phó bí thư đảng ủy chuyên trách; người đứng đầu cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ của đơn vị và một số cơ cấu khác (nếu có).

Thường trực đảng ủy gồm: bí thư và các phó bí thư đảng ủy.

Về tổ chức bộ máy, đảng bộ cơ sở có dưới 400 đảng viên không lập cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của đảng ủy, bố trí tối thiểu 2 cán bộ chuyên trách công tác đảng thuộc biên chế cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ của đơn vị.

Đảng bộ cơ sở có từ 400 đảng viên trở lên được lập 4 cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, gồm: văn phòng, ban tổ chức, ban tuyên giáo, cơ quan ủy ban kiểm tra.

Nếu đơn vị có từ 10 cán bộ chuyên trách công tác đảng trở lên thì lập cơ quan đảng ủy gồm: phó bí thư đảng ủy chuyên trách, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan tham mưu, giúp việc đảng ủy và đoàn thanh niên.

Biên chế cán bộ, viên chức, người lao động chuyên trách công tác đảng của đơn vị do ban thường vụ đảng ủy tự quyết định trong tổng biên chế của đơn vị theo hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng của Ban Bí thư và trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, vị trí việc làm.

Với các đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính; ban thường vụ đảng ủy tự quyết định số lượng cán bộ, viên chức, người lao động chuyên trách công tác đảng phù hợp với điều kiện thực tế.

Trần Thường

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/ban-bi-thu-quy-dinh-bo-may-dang-uy-co-so-ban-co-quan-cua-dang-o-trung-uong-2559850.html