Bỏ điểm cộng IELTS để chấm dứt tình trạng 30 điểm mới đỗ đại học
Theo chuyên gia, đề xuất bỏ điểm cộng và siết phương thức tuyển sinh sẽ giúp khắc phục "ma trận" xét tuyển, trả các chứng chỉ như IELTS về đúng chức năng đo năng lực ngôn ngữ.

Thí sinh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh minh họa: Đinh Hà.
Bộ GD&ĐT dự kiến năm 2027, mỗi ngành, chương trình đào tạo chỉ được được áp dụng ba phương thức tuyển sinh, không bao gồm xét tuyển thẳng và xét nhóm cử tuyển. Từ năm 2028, các trường chỉ được dùng một phương thức tuyển sinh với một ngành, chương trình.
Bên cạnh đó, bộ dự kiến từ năm 2027 sẽ chỉ còn điểm ưu tiên theo khu vực, đối tượng chính sách. Các trường đại học không được sử dụng điểm cộng do mình tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung.
Đánh giá các đề xuất trên, TS Hoàng Phương, Trưởng chương trình Tiếp thị kỹ thuật số và Truyền thông xã hội, trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV), nhận định đây là một bước điều chỉnh mang tính hệ thống nhằm góp phần khắc phục tình trạng "loạn" phương thức xét tuyển, giảm lạm phát điểm số và trả quá trình tuyển sinh về đúng bản chất đánh giá năng lực.
Tác động từ siết phương thức và bỏ điểm cộng
Theo TS Hoàng Phương, giai đoạn trước, các trường sử dụng phương thức xét tuyển với các chỉ tiêu chia nhỏ lẻ, tạo ra một ma trận rắc rối, gây áp lực tâm lý và chi phí cơ hội lớn cho học sinh.
Việc giảm số lượng phương thức đồng nghĩa với việc giảm thiểu tình trạng một thí sinh trúng tuyển bằng nhiều phương thức khác nhau vào cùng một ngành, gây khó khăn cho khâu lọc ảo và quản trị chỉ tiêu của các trường.
Khi mỗi ngành/chương trình đào tạo chỉ sử dụng một phương thức, các cơ sở giáo dục đại học sẽ chịu áp lực phải tìm ra hoặc thiết kế một công cụ đánh giá có đủ độ tin cậy, độ phân hóa và tính bao quát cao để chọn đúng chân dung sinh viên phù hợp với chuyên môn.
Bên cạnh đó, sự thay đổi này hạn chế việc phân tách quá nhiều cửa xét tuyển và tăng tính minh bạch giữa các nhóm thí sinh. Để cạnh tranh, các trường buộc phải chuyển dịch từ việc sáng tạo phương thức xét tuyển sang việc nâng cấp chất lượng đào tạo thực chất.
Về điểm cộng, TS Phương nhận định việc các trường tự cộng điểm cho IELTS, SAT hay giải thưởng phụ tạo ra sự bất bình đẳng lớn, đặc biệt gây bất lợi cho thí sinh ở các khu vực thiếu điều kiện tiếp cận các trung tâm luyện thi đắt đỏ.
Do đó, chuyển chứng chỉ ngoại ngữ thành điểm thành phần quy đổi hoặc tiêu chí sàn (điều kiện cần) thay vì cộng điểm "vượt khung" sẽ chấm dứt tình trạng điểm xét tuyển vượt quá thang điểm chuẩn (ví dụ 31, 32 điểm trên thang 30).
"Điều này trả các chứng chỉ quốc tế về đúng chức năng của chúng: Một thước đo năng lực ngôn ngữ hoặc tư duy chuẩn hóa, chứ không phải một loại quyền lực mềm để lách qua các môn học cốt lõi khác", bà Phương nói.
Thay vì dựa vào các điểm cộng phức tạp, việc thu hút sinh viên chất lượng cao sẽ phụ thuộc vào trải nghiệm học tập, mô hình giáo dục nhân bản, các chương trình học gắn liền với cọ xát thực tiễn và khả năng đồng kiến tạo giá trị (value co-creation) giữa người học và nhà trường.
Những cơ sở giáo dục có định vị thương hiệu rõ ràng và đầu ra đáp ứng đúng nhu cầu thị trường sẽ nắm lợi thế lớn khi cuộc chơi tuyển sinh được đưa về cùng một hệ quy chiếu.

TS Phương nhận định việc xác định ngành học mục tiêu phải được thực hiện ngay từ lớp 10 hoặc lớp 11. Ảnh minh họa: Đinh Hà.
Cần thay đổi chiến thuật
Theo TS Hoàng Phương, sự thay đổi của quy định tuyển sinh buộc học sinh và phụ huynh chuyển dịch chiến lược từ việc "tích lũy điểm cộng và rải thảm" sang "định hướng sớm và tập trung thực chất".
Cụ thể, khi IELTS, SAT hay các chứng chỉ quốc tế sẽ trở về đúng chức năng là một môn học quy đổi điểm hoặc tiêu chí sàn, thí sinh cần hoàn thành các bài thi này chậm nhất vào cuối học kỳ 2 lớp 11 để giảm áp lực cho năm lớp 12.
Bên cạnh đó, TS Phương khuyên phụ huynh không nên ép học sinh chạy đua học thêm nhiều loại chứng chỉ, giải thưởng phụ hay chứng nhận ngoại khóa kém chất lượng chỉ để "săn" điểm cộng.
Thời gian và chi phí tiết kiệm được từ việc luyện thi chứng chỉ tràn lan nên được dồn vào việc rèn luyện tư duy sâu và củng cố kiến thức ở các môn học thế mạnh.
TS Phương nhận định việc xác định ngành học mục tiêu phải được thực hiện ngay từ lớp 10 hoặc lớp 11. Nếu các trường chỉ dùng một phương thức cho mỗi ngành, học sinh cần tìm hiểu chính xác phương thức này để xây dựng lộ trình ôn tập phù hợp.
Bà Phương cho rằng khi số lượng phương thức bị giới hạn, các trường đại học tốp đầu nhiều khả năng sẽ ưu tiên sử dụng kết quả các kỳ thi đánh giá năng lực/tư duy làm công cụ phân hóa thí sinh, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Do đó, phương pháp học tập cần chuyển từ thói quen ghi nhớ máy móc, học mẹo giải nhanh theo khối sang rèn luyện tư duy logic, kỹ năng đọc hiểu văn bản dài, xử lý số liệu và giải quyết vấn đề tổng hợp.
Đối với các trường chọn phương thức xét tuyển tổng hợp (kết hợp hồ sơ, học bạ và phỏng vấn), thí sinh sẽ được đánh giá khắt khe hơn. Do đó, học sinh cần duy trì phong độ học tập ổn định xuyên suốt 3 năm THPT.
"Dù phương thức xét tuyển là gì, một bảng điểm THPT không có sự trồi sụt thất thường luôn là minh chứng cho thái độ học tập bền bỉ và kỷ luật cá nhân", bà Phương nói.
Ngoài ra, các trải nghiệm ngoại khóa cần có tính ứng dụng, gắn liền với sở thích cá nhân hoặc định hướng nghề nghiệp để làm chất liệu thực chất cho các vòng phỏng vấn hoặc bài luận sâu.


