Bỏ phố về quê, làm giàu từ mô hình nuôi động vật hoang dã

Từng thành công, kiếm tiền tỷ từ nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng sau cùng ông Võ Văn Nguyên (Nghệ An) lại chọn gắn bó bền bỉ với nghề nuôi chồn hương.

Nuôi chồn hương là mô hình mới, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ gia đình ở Nghệ An.

Nuôi chồn hương là mô hình mới, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ gia đình ở Nghệ An.

Rời nghề kinh doanh khách sạn, ông Võ Văn Nguyên (50 tuổi) xã Hưng Nguyên Nam, Nghệ An về quê nuôi chồn hương, một trong những loài động vật hoang dã khó nuôi. Sau ba năm kiên trì, ông đã xây dựng được trang trại chồn hương ước tính hàng tỷ đồng.

Trong quá trình kinh doanh khách sạn tại Cửa Lò, ông Nguyên nhận thấy các món ăn từ đặc sản rừng, trong đó có chồn hương, luôn được thực khách ưa chuộng nhưng nguồn cung không ổn định. "Có lúc khách đặt rất nhiều nhưng không có hàng. Tôi nghĩ nếu chủ động được nguồn thì sẽ giải quyết được nguồn hàng", ông kể.

Từ ý nghĩ đó, ông Nguyên bắt đầu tìm hiểu mô hình nuôi chồn hương. Trước khi quyết định đầu tư, ông dành nhiều tháng đi các tỉnh như Đồng Nai, Cà Mau, Quảng Trị để chọn con giống, học hỏi kỹ thuật và tìm hiểu quy định pháp lý về nuôi động vật hoang dã. "Chồn hương không giống các vật nuôi thông thường. Nếu không hiểu tập tính, không nắm rõ quy định pháp luật thì rất dễ thất bại", ông Nguyên nói.

Ông Nguyên chọn xây dựng trang trại theo hướng khép kín, có camera giám sát 24/24.

Ông Nguyên chọn xây dựng trang trại theo hướng khép kín, có camera giám sát 24/24.

Giai đoạn đầu, ông đầu tư nuôi 70 con giống, xây dựng trang trại theo mô hình khép kín, lắp camera giám sát 24/24. Theo ông, chồn hương là loài nhạy cảm, chuồng trại phải cao ráo, thông thoáng, đặc biệt yên tĩnh. Chỉ cần môi trường sống không phù hợp, chồn có thể bị stress, bỏ ăn và sinh bệnh.

Hiện nay, mỗi chuồng trại chỉ nuôi một con để bảo đảm môi trường sống ổn định, đến mùa sinh sản mới ghép đôi. Trung bình mỗi năm, chồn hương sinh sản 1-2 lứa, mỗi lứa từ 2-5 con.

Thức ăn cho chồn cũng được kiểm soát chặt chẽ, chủ yếu là trái cây kết hợp cháo nấu từ cá, thịt gia cầm và trứng. Ngoài ra, ông Nguyên xây dựng mô hình nuôi tuần hoàn, tận dụng phân chồn và nuôi cá làm nguồn thức ăn, giúp giảm chi phí và hạn chế ô nhiễm môi trường.

Năm đầu tiên, trang trại chủ yếu tập trung ổn định đàn. Sang năm thứ hai, ông bắt đầu chọn lọc, gây giống từ những con sinh sản tốt. Đến năm thứ ba, khi số lượng chồn tăng nhanh, trang trại mới có nguồn thu ổn định từ việc bán con giống.

Hiện ông Nguyên duy trì hai khu trại với tổng đàn hơn 400 con, trong đó khoảng 300 con bố mẹ. Mỗi năm, trang trại xuất bán khoảng 100 con giống cho người nuôi ở nhiều tỉnh phía Bắc. Giá chồn giống thấp nhất khoảng 10 triệu đồng/cặp, bán lẻ từng con có giá cao hơn.

Theo ông Nguyên, chồn hương rất nhạy cảm với tiếng động, nếu môi trường không yên tĩnh có thể bỏ ăn, sinh bệnh.

Theo ông Nguyên, chồn hương rất nhạy cảm với tiếng động, nếu môi trường không yên tĩnh có thể bỏ ăn, sinh bệnh.

Tổng vốn đầu tư ban đầu cho con giống và cơ sở vật chất khoảng 1 tỷ đồng. Đến nay, giá trị đàn chồn hương và hệ thống trang trại được ông Nguyên ước tính khoảng 6 tỷ đồng. Dù đã thu hồi vốn, ông cho biết vẫn ưu tiên gây đàn, chưa bán ồ ạt để lấy lợi nhuận ngắn hạn. "Làm nông nghiệp không thể nóng vội. Phải kiên trì, làm đúng kỹ thuật và tuân thủ pháp luật thì mới có thể đi đường dài", ông Nguyên chia sẻ.

Theo bà Nguyễn Thị Nhàn, Trưởng phòng Kinh tế xã Hưng Nguyên Nam, mô hình nuôi chồn hương của gia đình ông Võ Văn Nguyên được đầu tư bài bản, tuân thủ các quy định về pháp luật, thú y và an toàn sinh học. Đây là mô hình có tiềm năng, thị trường tương đối ổn định nếu người nuôi thực hiện đúng quy trình.

Theo bà Nhàn, địa phương khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế hiệu quả, đồng thời lưu ý người dân cần phải tìm hiểu kỹ thị trường, quy định pháp lý và chỉ mua con giống tại các cơ sở hợp pháp để tránh rủi ro.

Sau ba năm gây dựng, trang trại hiện duy trì tổng đàn hơn 400 con, trong đó khoảng 300 con bố mẹ.

Sau ba năm gây dựng, trang trại hiện duy trì tổng đàn hơn 400 con, trong đó khoảng 300 con bố mẹ.

Mỗi chuồng trại chỉ nuôi riêng một con chồn hương nhằm hạn chế stress, bảo đảm môi trường sống ổn định.

Mỗi chuồng trại chỉ nuôi riêng một con chồn hương nhằm hạn chế stress, bảo đảm môi trường sống ổn định.

Đến mùa sinh sản, chồn hương mới được ghép đôi; trung bình mỗi năm sinh sản 1-2 lứa, mỗi lứa từ 2 đến 5 con.

Đến mùa sinh sản, chồn hương mới được ghép đôi; trung bình mỗi năm sinh sản 1-2 lứa, mỗi lứa từ 2 đến 5 con.

Thức ăn của chồn hương được kiểm soát chặt chẽ, chủ yếu là trái cây kết hợp cháo nấu từ cá, thịt gia cầm và trứng.

Thức ăn của chồn hương được kiểm soát chặt chẽ, chủ yếu là trái cây kết hợp cháo nấu từ cá, thịt gia cầm và trứng.

Ông Nguyên xây dựng mô hình chăn nuôi tuần hoàn, kết hợp nuôi cá làm thức ăn cho chồn, giảm chi phí và hạn chế ô nhiễm.

Ông Nguyên xây dựng mô hình chăn nuôi tuần hoàn, kết hợp nuôi cá làm thức ăn cho chồn, giảm chi phí và hạn chế ô nhiễm.

Ở Việt Nam, chồn hương là loài động vật hoang dã phân bố khá rộng ở nhiều tỉnh, thành. Đây là loài ăn tạp, hoạt động kiếm ăn chủ yếu vào ban đêm. Chồn hương có khả năng sinh sản quanh năm, song tập trung nhiều nhất vào các tháng 10, 11 và 12, mỗi lứa thường sinh từ 2 đến 5 con.

Hiện nay, trước nhu cầu thị trường và phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, ở Nghệ An xuất hiện các cơ sở nuôi chồn hương theo hình thức nuôi nhốt, bán hoang dã. Các cơ sở này được cấp phép, quản lý chặt chẽ về nguồn gốc con giống, điều kiện chuồng trại, vệ sinh thú y và bảo đảm an toàn sinh học.

Việc nuôi chồn hương bài bản, hợp pháp không chỉ góp phần bảo tồn loài mà còn mở ra hướng làm ăn mới, giúp người dân tăng thu nhập, phát triển kinh tế nông thôn theo hướng chủ động và bền vững.

Song Hoàng

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/bo-pho-ve-que-lam-giau-tu-mo-hinh-nuoi-dong-vat-hoang-da-169260119083730925.htm