Bộ Tài chính phản hồi gì về một số kiến nghị của Vingroup?
Bộ Tài chính vừa có văn bản 508/BTC-PC phản hồi đối với một số phản ánh, kiến nghị của Tập đoàn Vingroup liên quan đến các quy định trong Luật Đầu tư.
Cần quy định rõ hình thức đầu tư ra nước ngoài và sử dụng lợi nhuận ở nước ngoài
Theo phản ánh của Vingroup, Điều 52 Luật Đầu tư 2020 về Hình thức đầu tư ra nước ngoài chưa quy định rõ các hình thức đầu tư. Doanh nghiệp nêu: trường hợp nhà đầu tư (NĐT) đã thành lập công ty F1 tại nước ngoài và công ty F1 tiếp tục thành lập công ty F2/mua phần vốn góp, cổ phần của công ty F2 tại nước ngoài thì trong hồ sơ đăng ký đầu tư ra nước ngoài, NĐT ghi hình thức đầu tư là gì cho phù hợp? Điều 52– Hình thức đầu tư ra nước ngoài, không quy định hình thức đầu tư này. Trường hợp này công ty F1 có bị coi là công ty đầu tư quản lý vốn không?
Phía doanh nghiệp đề xuất bổ sung, quy định rõ hình thức đầu tư phù hợp với thực tiễn. Lý do là các công ty F1 tiếp tục đầu tư công ty F2 có thể sẽ được lợi thế về thuế, các thủ tục hành chính như các doanh nghiệp FDI tại nước sở tại vì công ty F2 này có thể sẽ không được xem là doanh nghiệp FDI.
Phản hồi về vấn đề này, Bộ Tài chính cho rằng theo quy định tại khoản 2 Điều 67 Luật Đầu tư 2020, NĐT là chủ thể phải thực hiện thủ tục điều chỉnh hoặc cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trong các trường hợp sử dụng lợi nhuận ở nước ngoài theo quy định tại Điều 67 Luật Đầu tu 2020.

Ngày 11.12.2025, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 (sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1.3.2026) thay thế Luật Đầu tư 2020, trong đó Luật đã giao Chính phủ quy định về hình thức đầu tư ra nước ngoài, sử dụng lợi nhuận ở nước ngoài... Bộ Tài chính sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện nội dung này trong quá trình xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư số 143/2025/QH15.
Nhà đầu tư chỉ cần nộp báo cáo cho 3 cơ quan
Tại Điều 73 Luật Đầu tư 2020 quy định Chế độ báo cáo hoạt động đầu tư ở nước ngoài, Vingroup cho rằng hiện NĐT phải nộp báo cáo cho quá nhiều cơ quan: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính... Theo đó, phía doanh nghiệp đề xuất rằng NĐT chỉ cần nộp báo cáo tình hình thực hiện dự án đầu tư cho cơ quan chủ trì cấp phép. Cơ quan chủ trì cấp phép sẽ sao gửi/cung cấp cho các cơ quan có liên quan khi có yêu cầu. Đối với báo cáo tình hình sử dụng vốn: NĐT sẽ nộp cho Ngân hàng Nhà nước là nơi cấp phép chuyển vốn ra nước ngoài.
Tuy nhiên, quan điểm của Bộ Tài chính cho rằng, NĐT chỉ cần nộp báo cáo cho 3 cơ quan là Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước tiếp nhận đầu tư. Việc báo cáo đồng thời để các cơ quan kịp thời nắm bắt, tổng hợp thông tin về dự án đầu tư để có biện pháp hỗ trợ trong trường hợp cần thiết.
Bên cạnh đó, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 11.12.2025 (sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1.3.2026) đã quy định đơn giản hóa về chế độ báo cáo hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo hướng bỏ quy định báo cáo Quý, giảm tần suất thực hiện chế độ báo cáo cho NĐT.
Đề nghị điều chỉnh, cập nhật đối với Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Phía doanh nghiệp nêu ra tình huống, khi tham gia đầu tư ra nước ngoài, NĐT Việt Nam thường được yêu cầu cung cấp "Certificate of Good Standing" (Chứng nhận tình trạng tốt) để xác nhận công ty đang hoạt động tại thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa có văn bản tương đương.
Việc sử dụng thông tin đăng ký doanh nghiệp từ Cổng thông tin quốc gia thay thế gặp nhiều khó khăn, do: (1) Lỗi kỹ thuật: Trang tiếng Anh của cổng thông tin thường xuyên gặp lỗi; (2) Tính chính xác: Thông tin trên cổng thông tin còn nhiều sai sót, bao gồm các trường dữ liệu không liên quan hoặc thông tin thời gian không chính xác, làm giảm độ tin cậy của tài liệu; (3) Tính pháp lý: Tài liệu kết xuất ra không có chữ kí và dấu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến việc không được Cục Lãnh sự Việt Nam hoặc Đại sứ quán các nước chấp nhận để hợp pháp hóa lãnh sự - một yêu cầu bắt buộc trong hồ sơ đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp đề nghị điều chỉnh cập nhật đối với Cổng thông tin quốc gia để có thể sử dụng trong các trường hợp đầu tư ra nước ngoài, hoặc có phương án ban hành “Chứng nhận tình trạng tốt” để giảm thiểu rào cản hành chính cho doanh nghiệp Việt Nam và nâng cao tính cạnh tranh trong môi trường đầu tư nước ngoài.
Phản hồi phản ánh của Vingroup, Bộ Tài chính ghi nhận kiến nghị của doanh nghiệp về nội dung trang tiếng Anh trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, và sẽ nghiên cứu, chỉnh sửa trang tiếng Anh trên Cổng thông tin để phù hợp cho NĐT nước ngoài tra cứu thông tin.

Về tính chính xác của thông tin và tính pháp lý đối với tài liệu kết xuất trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Bộ Tài chính cho biết Khoản 6 Điều 3 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP quy định: “Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là tập hợp dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và tình trạng pháp lý của doanh nghiệp lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp có giá trị pháp lý là thông tin gốc về đăng ký doanh nghiệp”.
Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP quy định: “Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hỗ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo”.
Căn cứ các quy định nêu trên, thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp có giá trị pháp lý là thông tin gốc về đăng ký doanh nghiệp. Các thông tin trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở tập hợp thông tin từ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo do người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai. Do đó, người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của các thông tin kê khai.
Bộ Tài chính ghi nhận nội dung kiến nghị và sẽ rà soát các hệ thống cơ sở dữ liệu về đầu tư, đăng ký doanh nghiệp để đảm bảo cung cấp chính xác, kịp thời các thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp (bao gồm tình trạng hoạt động của doanh nghiệp).
Nhà đầu tư kê khai thông tin trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư và phải nộp nhiều bộ hồ sơ bản cứng
Đó là phản ánh của doanh nghiệp khi đề cập tới Điều 32 về Thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và Điều 44 về Thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ tại Nghị định 31/2021/NĐ-СР.
Phía doanh nghiệp đưa ra đề xuất chỉ thực hiện hồ sơ đề nghị thực hiện dự án đầu tư hoặc điều chỉnh dự án đầu tư bằng một hình thức online trên hệ thống thông tin quốc gia để giảm tải quản lý hồ sơ của cơ quan nhà nước cũng như hình thức chuẩn bị hồ sơ của doanh nghiệp.
Bộ Tài chính phản hồi, Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư đã quy định giao Chính phủ quy định chi tiết hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Nghị định số 239/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư đã quy định đơn giản hóa số lượng và phương thức nộp hồ sơ (Điều 2, Điều 31 và Điều 32) theo hướng NĐT nộp 1 bộ hồ sơ kèm theo bản điện tử của hồ sơ đến Bộ Tài chính thay vì 8 bộ hồ sơ như trước đây.
Bộ Tài chính ghi nhận kiến nghị này và sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa các thủ tục đầu tư trong quá trình xây dựng Nghị định quy định chi tiết Luật Đâu tư số 143/2025/QH15.
Điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình tổ chức kinh tế
Phản ánh về Điều 51 Nghị định 31/2021/NĐ-CР về Điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình tổ chức kinh tế, Vingroup cho biết: vướng mắc là đối với dự án đầu tư trong nước, hiện chỉ quy định thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư đối với dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư mà không quy định đối với trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhưng không thuộc trường hợp phải xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Đối với dự án đầu tư ra nước ngoài, hiện chưa có quy định về việc điều chỉnh dự án đầu tư ra nước ngoài trong trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình tổ chức kinh tế.

Phía doanh nghiệp đề xuất điều chỉnh và bổ sung đối với dự án đầu tư trong nước và dự án đầu tư ra nước ngoài, trường hợp Tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình tổ chức kinh tế (gọi chung là tổ chức lại) được kế thừa và tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế bị tổ chức lại đối với dự án đầu tư mà tổ chức kinh tế bị tổ chức lại đã thực hiện trước khi tổ chức lại theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đất đai và pháp luật có liên quan.
Tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở tổ chức lại sẽ thực hiện cập nhật thông tin nhà đầu tư trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư khi thay đổi thông tin do tổ chức lại; bỏ quy định thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư trong nước khi tổ chức lại bởi việc tổ chức lại sẽ được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Phản hồi về đề xuất này, Bộ Tài chính cho biết việc điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình tổ chức kinh tế được quy định tại Điều 51 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP. Theo quy định tại khoản 3 Điều này, NĐT phải thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư nếu việc tổ chức lại tổ chức kinh doanh dẫn đến thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 41 của Luật Đầu tư 2020 (như: thay đổi NĐT...).
Bộ Tài chính sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư trong quá trình xây dựng Nghị định quy định chi tiết Luật Đầu tư số 143/2025/QH15.
Đối với dự án đầu tư ra nước ngoài, Điều 63 Luật Đầu tư 2020 đã quy định cụ thể các trường hợp phải thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài như: “Thay đổi nhà đầu tư Việt Nam; Thay đổi hình thức đầu tư...". Do đó, trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài dẫn đến thay đổi NĐT hoặc hình thức đầu tư... theo quy định tại Điều 63 nêu trên thì NĐT thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án theo quy định của Luật Đầu tư.














