Bộ Y tế quy định mới nhất về kê đơn thuốc cổ truyền, dược liệu, kết hợp với thuốc hóa dược
Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà vừa ký ban hành Thông tư quy định về kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Thông tư này quy định kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược trong điều trị nội trú, điều trị ban ngày và điều trị ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Thông tư áp dụng đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược.

Thông tư quy định về kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực từ 1/3/2026.
Về nguyên tắc kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược, Thông tư của Bộ Y tế nêu rõ việc kê đơn thuốc phải thực hiện theo các quy định tại Điều 62, Điều 63 Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15 và các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, phù hợp với một trong các tài liệu gồm: Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đã được Bộ Y tế phê duyệt; Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hoặc Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện trong trường hợp chưa có hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế;
Dược điển Việt Nam hiện hành hoặc dược điển nước ngoài được Bộ Y tế công nhận; Dược thư quốc gia Việt Nam hiện hành.
Thứ hai, được kê đơn khi có sự trùng lặp một số vị thuốc cổ truyền, dược liệu trong thuốc thang, thuốc cổ truyền có dạng bào chế truyền thống hoặc dạng bào chế hiện đại theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 32/2020/TT-BYT ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tiêu chuẩn chế biến, bào chế thuốc cổ truyền trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền, thuốc dược liệu.
Thứ ba, được kê đơn thuốc thang riêng lẻ hoặc kê đơn kết hợp thuốc thang, thuốc cổ truyền có dạng bào chế truyền thống hoặc dạng bào chế hiện đại, thuốc dược liệu với liều lớn hơn theo quy định tại khi có sự trùng lặp các vị thuốc cổ truyền, dược liệu trong mỗi lần kê đơn thuốc kết hợp hoặc kê đơn thuốc riêng lẻ theo cách ghi đơn thuốc quy định tại Thông tư này.
Thứ tư, được kê đơn kết hợp thuốc thang, thuốc cổ truyền có dạng bào chế truyền thống hoặc dạng bào chế hiện đại, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược hoặc kê đơn riêng lẻ từng hình thức kê đơn thuốc trong mỗi lần kê đơn thuốc.
Thứ năm, trường hợp kê đơn thuốc kết hợp thuốc thang, thuốc cổ truyền có dạng bào chế truyền thống hoặc dạng bào chế hiện đại, thuốc dược liệu với thuốc hóa dược trong điều trị ngoại trú thì việc kê đơn thuốc hóa dược thực hiện theo quy định tại Thông tư số 26/2025/TTBYT ngày 30/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi là Thông tư số 26/2025/TT-BYT).
Thứ sáu, trường hợp kê đơn thuốc trong điều trị nội trú và điều trị ban ngày thực hiện theo quy định tại Thông tư số 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh và các văn bản có liên quan.
Tại Thông tư này, Bộ Y tế nêu rõ yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc, hồ sơ bệnh án.
Trong đó, về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, đối với thuốc thang:
Tùy tình trạng bệnh lý của người bệnh, người hành nghề kê đơn thuốc mỗi lần tối đa không quá 30 (ba mươi) ngày hoặc theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cấp có thẩm quyền ban hành;
Đối với thuốc có chứa vị thuốc cổ truyền được chế biến, bào chế từ dược liệu độc, mỗi lần kê đơn không quá 05 (năm) ngày;
Đối với bệnh cấp tính, số lượng thuốc mỗi lần kê đơn đủ sử dụng không quá 05 (năm) ngày.

Đối với thuốc thang, Bộ Y tế nêu rõ, tùy tình trạng bệnh lý của người bệnh, người hành nghề kê đơn thuốc mỗi lần tối đa không quá 30 (ba mươi) ngày hoặc theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cấp có thẩm quyền ban hành.
Đối với thuốc dược liệu; thuốc cổ truyền có dạng bào chế truyền thống hoặc dạng bào chế hiện đại: người hành nghề quyết định số ngày sử dụng của mỗi thuốc trong đơn thuốc căn cứ vào tình trạng lâm sàng, mức độ ổn định của người bệnh để kê đơn thuốc với số ngày sử dụng của mỗi thuốc tối đa không quá 90 (chín mươi) ngày.
Kê đơn thuốc thang trong điều trị nội trú, điều trị ban ngày: Thực hiện kê đơn thuốc tối thiểu hai lần trong 10 (mười) ngày;
Trong những lần khám bệnh tiếp theo nếu không thay đổi chỉ định điều trị và giữ nguyên bài thuốc đã được chỉ định ngay trước đó thì được phép kê lại bằng cách ghi "Bài thuốc hoặc đơn thuốc của ngày, tháng, năm" và chỉ được một lần, trường hợp tiếp tục sử dụng bài thuốc đó trong lần kế tiếp phải ghi lại bài thuốc.
Kê đơn thuốc đối với người bệnh ngay sau khi kết thúc việc điều trị nội trú, điều trị ban ngày (bao gồm thuốc thang, thuốc cổ truyền dạng bào chế truyền thống, dạng bào chế hiện đại, thuốc dược liệu, thuốc hóa dược)
Trường hợp tiên lượng người bệnh cần tiếp tục sử dụng thuốc từ 01 (một) đến đủ 07 (bảy) ngày sau khi ra viện thì người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh chỉ định điều trị tiếp và ghi vào hồ sơ bệnh án nội trú đồng thời kê đơn thuốc cho người bệnh bảo đảm phù hợp với nội dung chỉ định thuốc trong hồ sơ bệnh án nội trú;
Trường hợp tiên lượng người bệnh cần tiếp tục điều trị trên 07 (bảy) ngày sau khi ra viện thì căn cứ tình trạng của người bệnh, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh quyết định kê đơn thuốc ngoại trú hoặc lập hồ sơ bệnh án điều trị ngoại trú hoặc chuyển người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để tiếp tục điều trị. Số ngày sử dụng của mỗi thuốc được kê trong đơn thuốc hoặc chỉ định trong hồ sơ bệnh án ngoại trú theo quy định tại điểm a khoản này.












