Cần có năng lực thông hiểu truyền thông quốc tế

Trong bối cảnh thế giới mà một đoạn video mười lăm giây có thể làm lung lay uy tín của cả một thương hiệu, hiểu cách thông tin vận hành xuyên biên giới không còn là đặc quyền của nhà báo hay nhà ngoại giao. Đó là năng lực sống còn của mọi người lao động có tri thức.

Tác giả cùng các sinh viên. (Ảnh: L.Y)

Tác giả cùng các sinh viên. (Ảnh: L.Y)

Mỗi khi nhắc đến truyền thông quốc tế, nhiều người vẫn hình dung đó là lĩnh vực của phóng viên thường trú nước ngoài, cán bộ thông tin đối ngoại hay sinh viên các trường báo chí, ngoại giao. Cách nghĩ ấy từng hợp lý khi dòng thông tin quốc tế còn đi qua một số ít kênh chính thống.

Nhưng hôm nay, khi một kỹ sư phần mềm ở Hà Nội, một nông dân trồng sầu riêng ở Đắk Lắk hay một sinh viên y khoa ở Huế đều có thể trở thành người phát và người nhận thông tin toàn cầu chỉ bằng chiếc điện thoại, câu hỏi đặt ra không còn là “ai nên học để có năng lực truyền thông quốc tế”, mà là “ai có thể đứng ngoài nó”. Và khi không ai thực sự đứng ngoài được, điều đáng bận tâm là làm sao mỗi người giữ được sự độc lập trong nhận thức, đủ khả năng phản tư để không bị truyền thông quốc tế thao túng.

Biên giới đã dịch chuyển

Nhà nghiên cứu Benedict Anderson, trong cuốn Những cộng đồng tưởng tượng (Imagined Communities, xuất bản lần đầu năm 1983), từng mô tả quốc gia như một “cộng đồng tưởng tượng”, được giới hạn bởi những đường biên mà ngoài đó là các quốc gia khác.

Trong cuốn Truyền thông quốc tế: Cách tiếp cận năng lực truyền thông, Silverblatt và Zlobin (2004) chỉ ra rằng những đổi mới công nghệ như Internet và vệ tinh viễn thông đã xóa nhòa các đường biên truyền thống ấy. Hơn hai mươi năm sau, nhận định này càng đúng hơn bao giờ hết: nền tảng số, thuật toán đề xuất nội dung và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đã khiến mọi thông điệp, dù sinh ra ở đâu, đều có thể lan tới bất kỳ ai.

Điều đáng lưu ý là biên giới vật lý đã không còn ngăn nổi trí tưởng tượng của con người. Việc nắm rõ thế giới nằm ngay trong nhận thức của từng người: giữa người biết đọc hiểu thông điệp quốc tế và người chỉ biết tiếp nhận thụ động.

Có tiếp cận không có nghĩa là “thông hiểu”

Trong tiếng Anh, từ “literacy” vốn chỉ khả năng biết đọc, biết viết. Khi ghép thành “media literacy”, mà tiếng Việt thường dịch là năng lực truyền thông, khái niệm này được mở rộng: Biết đọc không còn dừng ở việc nhận mặt chữ, mà là giải mã được thông điệp truyền thông. Một người có thể xem hàng trăm bản tin mỗi ngày mà vẫn “mù chữ” theo nghĩa ấy, cũng như cầm một cuốn sách trên tay chưa chắc đã đọc được nó. Tiếp cận chỉ là điều kiện cần, thông hiểu mới là điều kiện đủ.

Đây cũng là sự phân biệt mà Silverblatt và Zlobin (2024) đặt ở trung tâm cuốn sách của mình. Theo các tác giả, việc ai cũng tiếp cận được truyền thông không nên bị nhầm lẫn với năng lực truyền thông; người có năng lực là người giữ được khoảng cách phê phán để tự quyết định nên tiếp nhận nội dung nào và diễn giải thông tin ra sao. Ngày nay, năng lực ấy được hình thành không chỉ thông qua các khóa học, mà chìa khóa đầu tiên là mỗi người tự ý thức về việc tiếp nhận thông tin.

Thế hệ công chúng trẻ hôm nay không thiếu thông tin. Họ có năng lực ngoại ngữ, đọc tin quốc tế, xem phim nước ngoài, theo dõi nghệ sĩ Hàn Quốc hay nhà sáng tạo nội dung Mỹ mỗi ngày. Thứ cần làm giàu là khả năng đặt câu hỏi: Thông điệp này do ai tạo ra, phục vụ lợi ích nào, được đóng khung theo góc nhìn văn hóa của ai, và điều gì đã bị lược bỏ. Không có năng lực ấy, lượng thông tin khổng lồ không làm con người hiểu biết hơn mà ngược lại, khiến họ dễ bị dẫn dắt hơn.

Một bài tập nhỏ mà tôi thường cho sinh viên khóa học Truyền thông Hoa Kỳ thực hành minh họa khá rõ điều này. Các em chọn hai bài báo về cùng một chủ đề, chẳng hạn biến đổi khí hậu, từ hai tờ báo Mỹ có khuynh hướng chính trị khác nhau, một tờ gần với Đảng Cộng hòa và một tờ gần với Đảng Dân chủ, rồi so sánh.

Cùng một sự kiện, nhưng một bên đặt trọng tâm vào thiệt hại và trách nhiệm hành động, bên kia nhấn mạnh chi phí kinh tế và sự bất định của các dự báo; nguồn được trích dẫn, hình ảnh minh họa và cả thứ tự trình bày thông tin đều khác nhau. Nhiều em ngạc nhiên vì trước đó chưa từng để ý đến những khác biệt ấy, và nhận ra mình từng tiếp nhận tin tức một cách thụ động.

Sự tích hợp liền mạch giữa truyền thông truyền thống và kỹ thuật số trong một mạng lưới toàn cầu. (Ảnh minh họa: Internet)

Sự tích hợp liền mạch giữa truyền thông truyền thống và kỹ thuật số trong một mạng lưới toàn cầu. (Ảnh minh họa: Internet)

Với hầu hết nhiều người, thì không nhất định cứ phải qua các khóa học, mà chỉ cần để ý quan sát tin tức, sẽ học được nhiều ý nghĩa sau mỗi một dòng tin. Đó là khi năng lực thông hiểu truyền thông dần hình thành. Và điều đó sẽ giúp chúng ta thức tỉnh hơn trước những nguy cơ của tin giả ở mức độ cảnh báo cao hơn nhiều lần so với các thập kỷ trước.

Hơn hai mươi năm trước, sau sự kiện 11/9, một tin đồn lan truyền qua Internet tại Indonesia cho rằng 4.000 người Do Thái đã được báo trước để nghỉ làm tại Trung tâm Thương mại Thế giới 11/9/2001, ngụ ý người Do Thái đứng sau vụ tấn công. Đây là một thuyết âm mưu hoàn toàn bịa đặt, nhưng nhiều người vẫn tin là thật chỉ vì “có trên mạng”. Nếu thay những dòng tin trên Internet thời đó bằng video giả mạo do trí tuệ nhân tạo tạo ra như hôm nay, rủi ro mà thứ tin giả này đem lại sẽ còn nhân lên gấp nhiều lần.

Hiểu biết về thế giới gắn với lựa chọn hòa bình

Hai tác giả Art Silverblatt và Nikolai Zlobin trong sách Truyền thông quốc tế: Cách tiếp cận năng lực truyền thông lấy ví dụ rằng trước sự kiện 11/9, tin quốc tế chỉ chiếm 6% tin tức trên truyền hình Mỹ, và các nghiên cứu cho thấy người Mỹ càng ít hiểu biết về thế giới thì càng có xu hướng ủng hộ biện pháp trừng phạt thay vì ngoại giao đối với các quốc gia gây khó khăn.

Bài học ấy không chỉ đúng với nước Mỹ. Mỗi người cần có năng lực đánh giá các thông tin từ mạng xã hội và các nguồn tin không đáng tin cậy, thay vì tiếp nhận thụ động. Một thế hệ công dân chỉ nhìn thế giới qua lăng kính một chiều, hoặc qua bong bóng thuật toán trong vòng tròn tiếp nhận của riêng mình, sẽ dễ rơi vào định kiến, dễ tin vào tin giả và dễ bị kích động bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan trên mạng xã hội.

Ngược lại, người biết kiểm chứng và đối chiếu nhiều nguồn tin quốc tế sẽ nhìn ra quan điểm của chính nước mình, hiểu vì sao người khác nghĩ khác, và từ đó lựa chọn đối thoại thay vì đối đầu. Nói cách khác, truyền thông quốc tế không chỉ là kỹ năng nghề nghiệp mà còn là một phần của văn hóa hòa bình được hình thành từ mỗi công dân trẻ, cho đến khi họ trở thành nhà hoạch định chính sách.

Năng lực của một thế hệ mới

Nếu năng lực truyền thông quốc tế là nền tảng công dân, thì nó cũng là năng lực nghề nghiệp cụ thể của từng lĩnh vực.

Với kinh tế và kinh doanh, doanh nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu sang hàng trăm thị trường. Một thông tin sai lệch về an toàn thực phẩm, một chiến dịch quảng cáo vô tình xúc phạm văn hóa bản địa, hay một làn sóng tẩy chay trên mạng xã hội nước ngoài có thể xóa sạch thành quả nhiều năm xây dựng thương hiệu. Trong môi trường ấy, lợi thế thường thuộc về những doanh nghiệp hiểu công chúng quốc tế tiếp nhận thông điệp ra sao, chứ không chỉ biết sản phẩm của mình tốt thế nào.

Với tài chính và ngân hàng, niềm tin là tài sản cốt lõi, và cũng là thứ dễ tổn thương nhất trước tin đồn. Không ít quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã chứng kiến những đợt rút tiền hàng loạt bắt đầu chỉ từ một thông tin thất thiệt trên mạng. Khi thị trường vốn liên thông toàn cầu, một tin đồn khởi phát ở nơi khác cũng có thể chạm tới ổn định tài chính trong nước, và những người làm nghề hiểu được cách tin đồn hình thành, lan truyền thường là những người phản ứng bình tĩnh và kịp thời nhất.

Với giới luật học, các tranh chấp thương mại, đầu tư hay chủ quyền ngày nay diễn ra song song trên hai mặt trận: Tòa án và dư luận quốc tế. Một lập luận pháp lý chặt chẽ trong phòng xử án có thể mang ý nghĩa rất khác khi được thuật lại trên truyền thông nước ngoài, và khoảng cách giữa hai cách hiểu ấy đôi khi ảnh hưởng đến kết cục không kém chính phán quyết.

Nếu năng lực truyền thông quốc tế là nền tảng công dân, thì nó cũng là năng lực nghề nghiệp cụ thể của từng lĩnh vực.

Nếu năng lực truyền thông quốc tế là nền tảng công dân, thì nó cũng là năng lực nghề nghiệp cụ thể của từng lĩnh vực.

Với khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, những người thiết kế thuật toán, nền tảng số và hệ thống trí tuệ nhân tạo đang góp phần định hình dòng chảy thông tin toàn cầu, nhiều khi theo những cách chính họ cũng chưa hình dung hết. Một tính năng đề xuất nội dung vận hành trơn tru ở thị trường này có thể tạo ra hệ quả xã hội bất ngờ ở một nền văn hóa khác, và hiểu biết về truyền thông quốc tế giúp người làm công nghệ nhìn thấy trước những hệ quả ấy.

Với y tế, đại dịch Covid-19 đã cho thấy điều mà Tổ chức Y tế thế giới gọi là “đại dịch thông tin”: Tin sai lệch về vaccine và phương pháp điều trị lan nhanh không kém virus, nhiều khi bắt nguồn từ nước ngoài. Trong bối cảnh đó, những thầy thuốc biết truyền thông rủi ro và giải thích bằng ngôn ngữ gần gũi đã trở thành một tuyến phòng vệ quan trọng không kém bệnh viện.

Với văn hóa và nghệ thuật, đây có lẽ là minh chứng sinh động nhất. Làn sóng văn hóa Hàn Quốc cho thấy âm nhạc, điện ảnh và ẩm thực có thể trở thành công cụ quyền lực mềm, nâng tầm hình ảnh quốc gia và kéo theo du lịch, xuất khẩu.

Những năm gần đây, nhiều sản phẩm âm nhạc của nghệ sĩ Việt đã được khán giả quốc tế đón nhận. Để những thành công đơn lẻ ấy trở thành một ngành công nghiệp văn hóa bền vững, điều cần đến không chỉ là tài năng hay chính sách đúng, mà còn là sự thấu hiểu cách một câu chuyện Việt Nam được kể, được nghe và được diễn giải ở các nền văn hóa khác.

Truyền thông quốc tế cũng là năng lực nghề nghiệp cụ thể của từng lĩnh vực. (Ảnh minh họa: Internet)

Truyền thông quốc tế cũng là năng lực nghề nghiệp cụ thể của từng lĩnh vực. (Ảnh minh họa: Internet)

Nền tảng chính sách và kinh nghiệm quốc tế

Yêu cầu này không chỉ xuất phát từ quan sát học thuật. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới xác định hội nhập là sự nghiệp của toàn dân, không chỉ của riêng ngành ngoại giao.

Kết luận số 57-KL/TW năm 2023 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng công tác thông tin đối ngoại cũng nhấn mạnh việc huy động sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội. Khi mỗi công dân, mỗi doanh nghiệp đều là một “đại sứ” của hình ảnh quốc gia trên không gian mạng, thì năng lực truyền thông quốc tế cần được trang bị rộng rãi chứ không thể khu trú trong một vài chuyên ngành.

Trên thế giới, UNESCO đã đặt nền móng cho giáo dục truyền thông từ năm 1982, khi quy tụ các nhà giáo dục, nhà truyền thông và nhà nghiên cứu từ 19 quốc gia tại Grünwald (Đức) để thông qua Tuyên bố Grünwald về giáo dục truyền thông, văn kiện kêu gọi đưa nội dung này vào hệ thống giáo dục từ bậc mầm non đến giáo dục người lớn.

Đến nay, tổ chức này tiếp tục thúc đẩy khung năng lực truyền thông và thông tin cho mọi cấp học. Phần Lan, quốc gia nhiều năm liền dẫn đầu Chỉ số năng lực truyền thông châu Âu, không dạy nội dung này như một môn riêng mà lồng ghép vào nhiều môn học, từ ngôn ngữ, lịch sử đến toán học. Kinh nghiệm này gợi ý rằng điều quan trọng không phải là thêm một học phần vào chương trình vốn đã quá tải, mà là xây dựng một năng lực xuyên suốt.

Những điều cần làm

Câu hỏi “tại sao cần thông hiểu truyền thông quốc tế” có lẽ nên được đặt lại: Điều người trẻ cần không hẳn là kiến thức chuyên sâu về lý thuyết truyền thông, mà là một năng lực nền gồm ba lớp lần lượt thứ bậc: Thứ nhất là hiểu biết về bối cảnh văn hóa, chính trị và kinh tế đằng sau các hệ thống truyền thông khác nhau; Thứ hai là khả năng đọc hiểu phê phán thông điệp xuyên biên giới. Thứ ba là kỹ năng kể câu chuyện của chính mình, của ngành mình, của đất nước mình sao cho công chúng quốc tế hiểu và tin.

Hiểu biết về truyền thông quốc tế ngày càng trở nên không thể thiếu. (Ảnh minh họa: Internet)

Hiểu biết về truyền thông quốc tế ngày càng trở nên không thể thiếu. (Ảnh minh họa: Internet)

Các trường đại học/ngành học không chuyên về truyền thông quốc tế có thể triển khai theo hướng kết hợp: Một học phần nền tảng ngắn gọn trong khối kiến thức chung, cộng với các tình huống truyền thông quốc tế được lồng ghép vào học phần chuyên ngành, chẳng hạn khủng hoảng thương hiệu trong môn quản trị, tin tức thị trường trong môn tài chính, hay chiến lược đưa sản phẩm văn hóa ra thế giới trong các ngành nghệ thuật.

Để trở thành một người tiếp nhận thông tin thông thái, hiểu biết về truyền thông quốc tế ngày càng trở nên không thể thiếu. Trong kỷ nguyên mà hình ảnh quốc gia được định hình từng ngày trên màn hình của hàng tỷ người, năng lực truyền thông quốc tế cần được xem là một phần của phẩm chất công dân toàn cầu và vì thế, là việc của tất cả chúng ta.

* TS. Lý Thị Hải Yến hiện là chuyên gia giảng dạy chính trị và truyền thông quốc tế tại Học viện Ngoại giao. Bà có kinh nghiệm trong cả hoạt động thực tiễn báo chí và nghiên cứu - giảng dạy.

TS. Lý Thị Hải Yến

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/can-co-nang-luc-thong-hieu-truyen-thong-quoc-te-447897.html