Chấm dứt hợp đồng, người lao động vẫn đòi được trợ cấp thôi việc từ công ty cũ
Lấy lý do đã chuyển giao nghĩa vụ cho công ty mới, doanh nghiệp từ chối trả hơn 17 triệu đồng trợ cấp thôi việc cho người lao động, nhưng tòa buộc công ty cũ phải thanh toán đủ.
Người lao động đòi tiền trợ cấp sau nghỉ việc
Ông Vương Bá H. từng ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần X. từ ngày 1/3/2001 và làm việc tại các đơn vị trực thuộc doanh nghiệp.
Ngày 1/10/2020, Công ty X. thành lập Công ty TNHH L. trên cơ sở góp 100% vốn, là doanh nghiệp hạch toán độc lập và có tư cách pháp nhân riêng. Theo ông H., trước thời điểm chuyển giao, Công ty X. trao đổi rằng ông vẫn tiếp tục công việc, mức lương không thay đổi nhưng về mặt pháp lý sẽ ký hợp đồng lao động mới với Công ty TNHH L.
Ngày 30/10/2020, Công ty X. và ông H. ký thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Đến ngày 1/11/2020, Công ty X. ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng với ông H. và ông tiếp tục làm việc tại Công ty TNHH L.
Theo ông H., khi chấm dứt hợp đồng với Công ty X., ông lẽ ra được hưởng trợ cấp thôi việc tương ứng với thời gian và mức lương, nhưng do không hiểu quy định nên không yêu cầu nhận ngay. Hai bên có thỏa thuận rằng khi ông nghỉ việc tại Công ty TNHH L., doanh nghiệp này sẽ chi trả khoản trợ cấp.

Chuyển công tác, người lao động vẫn đòi được trợ cấp thôi việc từ công ty cũ. Ảnh minh họa: Nam Khánh
Sau các lần chuyển nhượng vốn, Công ty TNHH L. đổi tên thành Công ty TNHH A1. Ngày 3/4/2025, Công ty X. chuyển cho doanh nghiệp này 80 triệu đồng để chi trợ cấp thôi việc cho người lao động. Ông H. được nhận 2.477.000 đồng, còn 17.523.000 đồng chưa được thanh toán.
Do đó, ông H. khởi kiện, yêu cầu Công ty X. trả số tiền còn thiếu. Tuy nhiên, Công ty X. không đồng ý. Doanh nghiệp cho rằng quan hệ lao động với ông H. đã chấm dứt từ ngày 1/11/2020, đến thời điểm khởi kiện đã hơn 5 năm, vượt thời hiệu yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Công ty X. cho rằng các bên đã thỏa thuận chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ đối với ông H. cho Công ty TNHH L., trong đó có nghĩa vụ chi trả trợ cấp thôi việc. Do ông H. vẫn đang làm việc tại Công ty TNHH A1 nên điều kiện phát sinh nghĩa vụ trả trợ cấp theo thỏa thuận chưa xảy ra.
Tòa xác định công ty cũ phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động
HĐXX không chấp nhận lập luận về thời hiệu của Công ty X. Theo tòa, mặc dù hợp đồng lao động giữa Công ty X. và ông H. chấm dứt từ năm 2020, nhưng ngày 3/4/2025, Công ty X. đã chuyển 80 triệu đồng cho Công ty TNHH A1 để thanh toán trợ cấp thôi việc cho người lao động. Đến ngày 7/10/2025, Công ty TNHH A1 đã chi khoản tiền này cho người lao động.
Tòa xác định việc Công ty X. chuyển tiền để thanh toán trợ cấp thể hiện doanh nghiệp đã thừa nhận và thực hiện một phần nghĩa vụ đối với ông H. Theo Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện làm bắt đầu lại thời hiệu.
Đến ngày 6/4/2026, do chưa nhận được khoản trợ cấp còn lại, ông H. khởi kiện yêu cầu Công ty X. thanh toán. Vì vậy, tòa cho rằng ông H. khởi kiện trong thời hạn 1 năm và vẫn còn thời hiệu.
Về nghĩa vụ trả trợ cấp, tòa nhận định giữa Công ty X. và ông H. có thỏa thuận để Công ty TNHH L. chi trả trợ cấp thôi việc. Tuy nhiên, tại phiên tòa, đại diện Công ty X. xác định giữa Công ty X. và Công ty TNHH L. không có văn bản thỏa thuận về việc chuyển giao nghĩa vụ trả trợ cấp cho ông H., cũng không có thỏa thuận ba bên giữa Công ty X., Công ty TNHH L. và ông H. về nội dung này.
Sau các lần mua bán vốn, Công ty TNHH L. cũng không còn là công ty con của Công ty X. mà đổi tên thành Công ty TNHH A1, hiện nay là Công ty TNHH H1.
Tòa dẫn Công văn số 216/SNV-LĐVL ngày 17/7/2025 của Sở Nội vụ, theo đó từ khi Bộ luật Lao động năm 1994 có hiệu lực, không thực hiện chế độ chuyển công tác đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Khi người lao động thôi việc tại đơn vị nào, hợp đồng lao động được chấm dứt và người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc.
Từ đó, tòa xác định trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho ông H. thuộc về Công ty X.
Theo sổ bảo hiểm xã hội, mức tiền lương bình quân làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc của ông H. là 5 triệu đồng/tháng; một nửa tháng tiền lương tương ứng 2,5 triệu đồng. Thời gian làm việc thực tế, sau khi trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp, từ ngày 1/3/2001 đến ngày 31/12/2008 là 8 năm.
Do đó, tổng tiền trợ cấp thôi việc Công ty X. phải trả cho ông H. là 20 triệu đồng. Ông H. đã nhận 2.477.000 đồng từ Công ty TNHH A1, còn thiếu 17.523.000 đồng.
Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vương Bá H., buộc Công ty cổ phần X. trả 17.523.000 đồng tiền trợ cấp thôi việc.
Ngoài khoản tiền trên, nếu chậm thi hành án, Công ty X. còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
(Bài viết dựa trên Bản án số 18/2026/LĐ-ST ngày 24/7/2026 của TAND khu vực 9 - An Giang).
