Chân dung 'Công dân học tập' trong kỷ nguyên số
Tới đây, thúc đẩy học tập suốt đời sẽ được các nhà quản lý xã hội thực hiện quyết liệt trên cơ sở việc phổ cập trình độ trong học đã hoàn thành. Điều này mang lại sự thật mà xưa nay chúng ta cho là xa lạ: đại chúng hóa học vấn đại học trên nền tảng hệ thống giáo dục tích hợp công nghệ học tập hiện đại.

3 khoảng thời gian ứng với 3 giai đoạn chuyển đổi số tại Việt Nam. Đồ họa: TTH
3 giai đoạn chuyển đổi số đã diễn ra ở Việt Nam
Giai đoạn 1: Số hóa thông tin (Digitization)
Chuyển đổi số tập trung vào việc chuyển đổi dữ liệu từ dạng vật lý (giấy tờ, thư từ, hồ sơ…) sang dạng kỹ thuật số. Các thông tin dưới dạng các văn bản cứng được chuyển sang các định dạng file điện tử như PDF, Word, Excel...
Giai đoạn 2: Số hóa quy trình ( Digitalization)
Ứng dụng công nghệ để tự động hóa các quy trình làm việc. Dữ liệu số hóa từ giai đoạn 1 được sử dụng để phân tích, cải tiến và tối ưu hóa quy trình vận hành. Các công cụ như phần mềm được sử dụng ở giai đoạn này rất đa dạng.
Giai đoạn 3: Giai đoạn chuyển đổi số toàn diện (Digital Transformation)
Giai đoạn này chuyển đổi số toàn bộ hệ thống hoạt động, định hình lại tất cả công việc trong một tổ chức từ cách thức tiến hành công việc, cách tạo ra những giá trị, văn hóa tổ chức, quản lý hoạt động... để phát triển các sản phẩm mới dựa trên nền tảng số.
Các sản phẩm mới, các dịch vụ trong giai đoạn này luôn dựa trên nền tảng trực tuyến như kinh doanh trực tuyến, dạy học trực tuyến... ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học máy, Internet kết nối vạn vật, tạo ra lợi thế cạnh tranh và sự trải nghiệm sâu sắc cho người hưởng dịch vụ.
Những năng lực cốt lõi của công dân trong kỷ nguyên số
Ngày 3/6/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 677/QĐ-TTg, phê duyệt chương trình xây dựng mô hình công dân học tập giai đoạn 2021-2030. Quyết định này ra đời sau khi Thủ tướng ký quyết định 749/QĐ-TTg (3/6/2020) về chương trình chuyển đổi số quốc gia đúng 2 năm chẵn.
Việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá công nhận danh hiệu "Công dân học tập" đã được tiến hành kịp thời và được thực thi theo kế hoạch số 196/KH-KHVN, trong đó năng lực cốt lõi của công dân học tập được chọn lựa theo tiêu chí học tập của khối các quốc gia OECD.

Năng lực cốt lõi của công dân học tập. Đồ họa: TTH
Để thể hiện ý thức chấp hành quyết định 749/QĐ-TTg, có 2 kỹ năng số được đưa vào Bộ tiêu chí này. Đó là kỹ năng truy cập thông tin và kiến thức trên các thiết bị điện tử và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu công việc và cuộc sống.
Cuối năm 2024, Tổng Bí thư có khẳng định việc đi vào kỷ nguyên mới (kỷ nguyên số) và cột mốc của hành trình toàn dân tiến vào kỷ nguyên mới là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Bài báo này được viết đúng vào thời điểm khai mạc Đại hội).
Mô hình "Công dân học tập" theo Quyết định 677/QĐ-TTg còn có hiệu lực trong nhiệm kỳ Đại hội VII của Hội Khuyến học Việt Nam (2026-2030). Tuy nhiên, năng lực số với nhiều kỹ năng số của công dân học tập trong giai đoạn này sẽ phải được thiết kế lại, và danh hiệu "Công dân học tập" chắc sẽ được thay thế bằng thuật ngữ "Công dân số".
Là một trong những chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng xã hội học tập, tôi thấy mình có trách nhiệm nghiên cứu và đề xuất bộ tiêu chí đánh giá công nhận danh hiệu "công dân số" giai đoạn 2026-2030 với tầm nhìn ngắn hạn 2035"
GS.TS Phạm Tất Dong
Trong tư duy của mình, tôi có mấy ý tưởng sau:
- Trong 5 năm 2026-2030, việc chuyển đổi số quốc gia ở nước ta ứng với giai đoạn Digitalization (số hóa quy trình); trong mọi hoạt động, nhất là sản xuất tại các doanh nghiệp lớn, các trang thiết bị hiện đại đã thể hiện trình độ tự động hóa khá cao. Sự kết nối việc làm với AI đã thể hiện rộng rãi, sự hiện diện của robot trong dây chuyền sản xuất đã mang tính phổ biến.
- Tuy tôi không lạc quan như Elon Musk khi ông cho rằng, đến năm 2030 thì AI đã thông minh hơn hẳn con người, mà dự đoán rằng AI ở thời điểm này đã đạt trình độ đa chức năng và đa nhiệm, như một lao động được đào tạo bài bản. Nó sẽ có khả năng tự học tốt hơn so với AI hiện nay.
- Trong giai đoạn 2026-2030, sự thúc đẩy học tập suốt đời sẽ được các nhà quản lý xã hội thực hiện quyết liệt. Đồng thời, việc phổ cập trình độ trong học có thể đã hoàn thành. Điều này mang lại một hệ quả mà xưa nay chúng ta cho là xa lạ: đại chúng hóa học vấn đại học trên nền tảng hệ thống giáo dục tích hợp những công nghệ học tập hiện đại.
Với ý tưởng đó, công việc nghiên cứu của tôi tập trung vào hai nội dung lớn:
1. Những năng lực cốt lõi mà kỷ nguyên số yêu cầu ở mỗi công dân
- Bài viết "Phát triển năng lực làm việc trong kỷ nguyên số" của tác giả Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Ngọc Quý trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam, số 2/2026, ra ngày 12/1/2026 cho rằng: Công nghệ số đang cấu trúc lại cách thức tạo ra giá trị cho nền kinh tế số, từ quy trình vận hành, mô hình kinh doanh đến phương thức phối hợp lao động. Năng lực làm việc đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số là điều kiện duy trì khả năng cạnh tranh nghề nghiệp trong môi trường lao động biến động nhanh và mạnh.
Sự tích hợp và lan tỏa của AI, Big Data, Cloud computing, Blockchain... đòi hỏi con người có khả năng dịch chuyển công việc, có đầy đủ năng lực số, tư duy phản biện và khả năng thích ứng.
Thị trường lao động đang phân hóa theo năng lực và khả năng tiếp cận cơ hội học tập. Dù chọn lĩnh vực lao động nghề nghiệp nào thì cũng đứng trước những rủi ro trần thu nhập và độ bấp bênh nếu người lao động thiếu lộ trình nâng cấp kỹ năng.
- Tôi trở lại với một tác giả mà tôi đã từng đọc bài viết của ông về những kỹ năng số của công dân số: Ông Mike Rblle - chuyên gia nổi tiếng về giáo dục số (Digital Education). Ông công bố kết quả nghiên cứu về năng lực cốt lõi của người dân trong kỷ nguyên số. Theo ông, có 3 năng lực số cốt lõi:
1. Năng lực tôn trọng và kết nối với người khác trong không gian số (Respect & Connect)
Năng lực này gồm 3 kỹ năng số cơ bản và những phẩm chất mong muốn:
Kỹ năng ứng xử văn hóa trên mạng. Kỹ năng này bảo đảm cho việc giao tiếp thực sự văn minh và lịch thiệp (Netiquette).
Kỹ năng tuân thủ Luật pháp số (Digital Law) Mọi người đều phải có kỹ năng này khi sống trong kỷ nguyên số, bởi không gian mạng không phải là vùng nằm ngoài pháp luật.
Kỹ năng truy cập số (Digital Access).
Trong kỷ nguyên số, truy cập số là quyền của mọi người. Cần bảo đảm phổ cập Internet ở những vùng khó khăn nhất để người dân được công bằng trong truy cập số. Đặc biệt là khi thiết kế các web và những nội dung mới, phải tính đến khả năng tiếp cận của người khuyết tật.
2. Năng lực Học tập suốt đời và thích ứng số trong môi trường số
Các kỹ năng số để thể hiện năng lực này là:
Kỹ năng sử dụng và chia sẻ thông tin số (Digital Literacy).
Kỹ năng giao tiếp số (Digital communication).
Kỹ năng thương mại số (Digital commerce).
3. Kỹ năng bảo vệ sự an toàn trên mạng (Protect)
Kỹ năng bảo vệ an ninh mạng (Digital Security).
Kỹ năng thực hiện quyền và trách nhiệm số (Digital Rights & Reponsibilities), bao gồm những quyền tự do được mở rộng trong thế giới số.
Kỹ năng giữ gìn sức khỏe số (Digital Health & Wellness).
Từ năm 2013, Joint Research Centre (JRC) - Trung tâm nghiên cứu chung của Ủy ban Châu Âu đã đưa ra kết quả nghiên cứu Khung năng lực số cho công dân Châu Âu (còn gọi là Digcomp).
Khung đó bao gồm 5 năng lực số, mỗi năng lực lại ứng với nhiều chỉ số đo với những kỹ năng cơ bản sau:

Đề xuất Bộ tiêu chí khung đánh giá mô hình công dân số giai đoạn 2026-2035
Ngoài những ý kiến của các nhà khoa học về những năng lực số cốt lõi của công dân trong kỷ nguyên số mà tôi đã tổng hợp trên đây, tôi còn tham khảo thêm ý kiến của một số chuyên gia qua các bài viết của họ như Lê Trung Nghĩa (Xây dựng khung năng lực số cho công dân học tập); Trương Tiến Tùng (Từ công dân số đến công dân học tập); Lê Trường Tùng (Gỡ bỏ các rào cản để phát triển xã hội học tập); Riina Vuorikari, Yves Punie, Stephanie Carretero, Lieve Van den Brande (Digcomp 2.0: The Digital Competence Framework for Citizens with eight proficiency levels and examples of use); Authors Brecko, B., Forrari, A. (The Digital Competence Framework for Consumers)...
Từ đó, trong nhận thức, tôi dần có được một ý kiến riêng về năng lực số lõi của công dân Việt Nam khi chúng ta sống trong kỷ nguyên số.

GS.TS Phạm Tất Dong: Tôi chọn 3 năng lực số cốt lõi cho công dân số trong kỷ nguyên số. Đồ họa: TTH
Vấn đề đặt ra ra là sau khi đã chọn được những năng lực cốt lõi thì phải xác định những kỹ năng cơ bản và những phẩm chất mong muốn để làm những chỉ số đo năng lực số trong các hoạt động.
Dưới đây là bảng trình bày các kỹ năng và phẩm chất trong từng năng lực số mà tôi đã lựa chọn:

Trên đây hoàn toàn là ý kiến của cá nhân tôi muốn chia sẻ với những ai có trách nhiệm xây dựng tiêu chí đánh giá công dân số và với mọi người đang tìm hiểu về năng lực công dân số để có kế hoạch phấn đấu đạt yêu cầu trở thành công dân số trong kỷ nguyên số.











