'Chia tay đòi quà' và những lưu ý pháp lý
Trong những vụ “chia tay đòi quà”, bản chất giao dịch, khả năng chứng minh và chứng cứ thể hiện ý chí tại thời điểm giao tài sản sẽ quyết định việc đương sự có đòi được tài sản hay không.
Không phải cứ tặng quà là mất
Ngày 18-9 vừa qua, TAND khu vực 4, Hà Nội tuyên án sơ thẩm vụ kiện đòi tài sản giữa nguyên đơn là ông Q. (63 tuổi, ngụ TPHCM) và bị đơn là bà H. (bạn gái cũ của ông Q., 48 tuổi, ngụ Hà Nội). Tòa án không chấp nhận ý kiến của bà H. rằng toàn bộ 5,9 tỷ đồng do ông Q. chuyển khoản là quà tặng không điều kiện, nhưng cũng bác yêu cầu của ông Q. về việc đòi lại toàn bộ số tiền này.
Ông Q. và bà H. không đăng ký kết hôn nhưng từng tổ chức lễ gia tiên và chung sống với nhau một thời gian. Khi chia tay, ông Q. khởi kiện đòi lại 5,9 tỷ đồng đã chuyển cho bà H. Ông gọi số tiền này là quà tặng trong quá trình quen nhau.
Khi tuyên án, TAND khu vực 4, Hà Nội chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà H. trả lại cho ông Q. 4,2 tỷ đồng, cho rằng trong số quà tặng này có tiền từ việc ông Q. bán đất, trừ đi các khoản chi phí chung mà ông đã thừa nhận trong tin nhắn...

Tặng quà là hành vi đẹp trong cuộc sống, nhưng đôi khi cũng gặp rắc rối (ảnh minh họa). Ảnh: MAI HOA
Vụ khác, trong thời gian tìm hiểu qua mạng xã hội, một Việt kiều Mỹ đã chuyển khoản 38 lần, tổng cộng 3.500 USD (khoảng 80 triệu đồng) cho bạn gái. Khi chia tay, ông đòi lại vì cho rằng đây là tiền cho mượn (có ghi chú “Em D mượn” khi chuyển khoản), trong khi cô gái khẳng định đây là quà tặng và không ký nhận vay mượn.
Tại phiên xử sơ thẩm TAND tỉnh Tây Ninh tuyên bác đơn khởi kiện của nguyên đơn, nhưng khi xét xử phúc thẩm vào tháng 6-2025, TAND Cấp cao tại TPHCM đã chấp nhận kháng cáo, tuyên cô gái phải trả lại 80 triệu đồng vì không chứng minh tài sản đã nhận là được nguyên đơn tặng cho.
Cách để các bên tự bảo vệ mình
Theo Tiến sĩ Trần Ngọc Tuấn (giảng viên Khoa Luật dân sự, Trường Đại học Luật TPHCM), thực tế cuộc sống phát sinh rất nhiều trường hợp “khi yêu tặng quà” và ít ai lập văn bản việc tặng cho. Dù tình cảm xây dựng trên nền tảng của sự tin tưởng, nhưng khi liên quan đến tài sản có giá trị, hai bên cần sự minh bạch và rõ ràng ngay từ đầu để tránh phát sinh rắc rối.
Ngay từ thời điểm cho nhận, các bên nên thể hiện cụ thể ý chí của mình, đặc biệt cần xác định tài sản đó là quà tặng hay cho mượn hoặc hùn vốn làm ăn chung… Ý chí này cần được thể hiện ở tin nhắn qua điện thoại di động, tin nhắn qua mạng xã hội, lịch sử chuyển khoản ngân hàng và các thông tin điện tử khác. Những dữ liệu này sẽ giúp thể hiện rõ ý chí của các bên tại thời điểm tài sản được chuyển giao.
Theo thẩm phán Nguyễn Xuân Tùng (TAND khu vực 2, TPHCM), các bên nên lập bản thỏa thuận các điều khoản về chế độ tài sản một cách rõ ràng: tài sản nào chung; tài sản nào riêng; cách quản lý, sử dụng, định đoạt; nguyên tắc phân chia khi chia tay. Để thống nhất trong thực tiễn xét xử, sắp tới TAND Tối cao nên có án lệ về loại việc tranh chấp tài sản dạng này.
Tiến sĩ Trần Ngọc Tuấn phân tích, theo quy định, bên tặng quà có thể yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng; nếu phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng mà bên nhận không thực hiện thì người tặng có quyền kiện đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự.
Về phía người nhận quà cần có các chứng cứ như tin nhắn, email về việc “được tặng cho vô điều kiện”. Tuy nhiên, cũng cần lường trước khả năng bên tặng có tin nhắn khác để chứng minh điều kiện tặng cho.
Đối với quà tặng tiêu dùng như quần áo, mỹ phẩm, điện thoại, có thể khéo léo nhắn tin để lấy phản hồi đồng thuận từ phía người tặng như cảm ơn đã tặng món quà (kèm ảnh chụp)... Sau khi chia tay, phát sinh tranh chấp, người nhận không nên thừa nhận nợ hoặc đồng ý trả tiền nếu bản chất là tặng cho.
Về giá trị món quà tặng, theo Điều 458 Bộ luật Dân sự, hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.
Theo Điều 459 Bộ luật Dân sự, việc tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.
Thẩm phán Nguyễn Xuân Tùng (TAND khu vực 2, TPHCM) cho rằng, việc “chia tay đòi quà” dễ được tòa án chấp nhận khi nguyên đơn chứng minh được rằng có chuyển tài sản cho bị đơn và giữa hai bên không có thỏa thuận nào về số phận của tài sản (phần nào giống việc chuyển tiền nhầm tài khoản).
Trong trường hợp hai bên sống chung như vợ chồng trước hôn nhân hợp pháp, thì pháp luật cũng không coi việc chuyển tài sản qua lại giữa các bên là thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của vợ chồng. Khi có tranh chấp, vụ việc sẽ được giải quyết theo hướng cái gì chứng mình được là đã tiêu xài chung hết thì không chia, cái gì còn thì của ai trả cho người đó.
Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/chia-tay-doi-qua-va-nhung-luu-y-phap-ly-post872920.html


