Cho đồng xanh thành tiếng hát
Dường như những cành đào, mai hé lộc vào thời điểm này, hình hài, hương sắc của nó cũng có những thay đổi. Đây cũng là thời điểm đánh thức những cánh đồng đang chuyển mình trong nền nông nghiệp xanh-sạch-bền vững. Từ bàn tay người nông dân, công nghệ và tri thức được gieo xuống luống cày, làm nảy mầm những giá trị mới...
Mồ hôi và khát vọng
Trong nhiều năm, chúng ta quá quen với hình ảnh người nông dân tần tảo, một nắng hai sương, đời người theo chân lấm đất. Nhưng giờ đây, trên nhiều vùng quê, họ còn là những người tiên phong trong cuộc chuyển đổi lớn: Giảm giống, giảm phân, giảm thuốc bảo vệ thực vật... thay thế bằng kỹ thuật tưới tiết kiệm, phân hữu cơ, chế phẩm sinh học; đưa công nghệ số vào quản lý sản xuất; hình thành vùng nguyên liệu an toàn, chuẩn hóa theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
Ở xã Lục Ngạn (tỉnh Bắc Ninh), người nông dân đã mạnh dạn chuyển 600ha cây vải sang sản xuất hữu cơ và hữu cơ chuyển đổi. Nhờ quản lý dịch hại bằng bẫy sinh học, tỉa cành tạo tán hợp lý, dùng phân chuồng hoai mục, bà con tiết kiệm 30-40% chi phí, đồng thời trái vải thơm hơn, thời gian bảo quản dài hơn. Riêng vụ năm 2024, nhiều hộ thu thêm 20-30 triệu đồng/ha nhờ bán được vào các thị trường cao cấp, khó tính.
Ở An Giang, những cánh đồng lúa theo mô hình “lúa-tôm-hữu cơ” đã cho thấy hiệu quả kép. Người dân xã Phú Hữu đào mương dẫn nước, nuôi tôm càng xanh giữa ruộng lúa, tận dụng phân tôm làm dinh dưỡng tự nhiên cho cây. Lúa giảm sâu bệnh rõ rệt, không phải phun thuốc trừ sâu, năng suất vẫn giữ ổn định. Tết năm trước, nhiều gia đình có thêm khoản thu gần 100 triệu đồng từ tôm-món quà xuân được làm ra từ sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

Vườn nho hữu cơ tại xã Chiềng Mung, tỉnh Sơn La. Ảnh: NGUYỄN KIỂM
Những câu chuyện ấy cho thấy, khi người nông dân được hướng dẫn, hỗ trợ đúng cách và có niềm tin, họ chính là lực lượng mạnh mẽ nhất trong cuộc chuyển đổi xanh của đất nước. Nông nghiệp xanh không chỉ là nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn là trách nhiệm với môi trường, với sức khỏe cộng đồng và giữ gìn uy tín nông sản Việt.
Ở tỉnh miền núi Sơn La, những năm gần đây, ngành nông nghiệp đã triển khai nhiều chương trình quy mô như: Cánh đồng không rác thải, nông nghiệp tuần hoàn, phân bón thông minh. Các hợp tác xã trồng xoài, nhãn, nho... áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tái sinh. Lá, cành được ủ làm phân bón, nước tưới được tiết kiệm 50% nhờ hệ thống nhỏ giọt. Nhờ vậy, mỗi năm, các hợp tác xã giảm được hàng nghìn tấn rác hữu cơ và hạn chế phát thải hàng trăm tấn CO₂. Trái cây được gắn mã vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu, Trung Quốc, Mỹ...
Ở Nghệ An có mô hình “trâu, bò không chất thải” từ việc sử dụng toàn bộ phân chuồng làm phân hữu cơ, dùng phân trâu, bò để nuôi giun quế làm thức ăn giàu đạm cho gia cầm, cá. Chỉ sau hai năm, hơn 1.500 hộ nông dân đã giảm đáng kể chi phí chăn nuôi, còn nguồn chất thải từ nuôi giun quế được xếp vào loại phân hữu cơ vi sinh tự nhiên, giàu hàm lượng dinh dưỡng và hệ vi sinh vật phong phú, giúp cải tạo, phục hồi đất trồng trọt bị bạc màu.
Mỗi mô hình là một “tiếng hát xanh” góp vào "bản nhạc" chung phục dưỡng đất đai, nguồn nước, không khí; khôi phục hệ sinh thái; nâng cao chất lượng nông sản và niềm tin của người tiêu dùng. Sự chuyển đổi xanh chỉ bền vững khi các “nốt nhạc” lẻ hòa thành bản hợp ca. Những năm qua, sự đồng hành của Nhà nước-doanh nghiệp-nhà nông đã mở ra nhiều đột phá.
Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, từ quy hoạch vùng sản xuất hữu cơ, nông nghiệp phát thải thấp, cấp mã số vùng trồng, ban hành tiêu chuẩn quốc gia đến hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật, thúc đẩy tín dụng xanh cho nông nghiệp. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là xây dựng thị trường carbon vừa tăng khối lượng giao dịch, vừa là công cụ thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng phát thải thấp để bảo đảm lợi ích quốc gia và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Doanh nghiệp trở thành đối tác đồng hành, ví dụ như các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở Đồng Tháp ký hợp đồng bao tiêu với nông dân, cung ứng giống, phân hữu cơ và hướng dẫn ghi nhật ký điện tử. Một số doanh nghiệp sữa tại Mộc Châu (tỉnh Sơn La) chủ động đầu tư hệ thống phân tách chất thải, giúp hộ chăn nuôi giảm ô nhiễm và có thêm thu nhập từ phân ủ.
Nhìn rộng hơn, các doanh nghiệp nông nghiệp cũng thấu hiểu rằng, thị trường không trả thêm tiền cho sản phẩm xanh, nhưng nếu không xanh thì bị loại. Lợi ích lớn nhất của sản xuất xanh là sự ổn định dài hạn. Ngoài việc giữ thị trường, các doanh nghiệp sản xuất xanh cũng dễ tiếp cận vốn ưu đãi, giảm chi phí phát thải và nâng cao uy tín thương hiệu.
Nhà nông với bàn tay và trí óc của mình đã làm nên và quyết định thành công của mô hình. Khi được trao quyền, được hướng dẫn và được bảo đảm đầu ra, bà con sẵn sàng thay đổi tập quán cũ, chấp nhận khó khăn ban đầu để theo đuổi sản xuất bền vững. Sự hòa hợp "3 nhà" đã và đang biến nhiều vùng đất nghèo thành vùng xanh thịnh vượng.
Đồng xanh thành tiếng hát
Không chỉ mùa xuân, mùa nào cũng thế, đi dọc đất nước, ta sẽ gặp những gam màu mới, những hình ảnh đẹp: Thiếu nữ hây hây má hồng bên rẫy cà phê chín đỏ ở Tây Nguyên; những vườn rau hữu cơ của các hợp tác xã ngoại thành Hà Nội; những thanh niên khởi nghiệp bằng nông nghiệp công nghệ cao; Bộ đội Biên phòng cùng bà con miền núi vận hành hệ thống tưới tiết kiệm nước...
Mỗi thửa ruộng, mỗi mô hình sản xuất xanh là một câu chuyện riêng, nhưng đều mang tinh thần làm nông nghiệp bằng sự tôn trọng đất đai. Khi những hạt lúa hữu cơ, phát thải thấp, trái cây, hạt cà phê sạch được đưa ra thị trường quốc tế, đó không chỉ là giá trị kinh tế mà còn là hình ảnh Việt Nam tự tin, hài hòa giữa truyền thống và hiện đại; biết trân trọng từng tấc đất cha ông để lại và biết làm giàu từ chính sự an lành của thiên nhiên.
Tương lai của nông nghiệp xanh còn nhiều việc phải làm: Kế hoạch carbon thấp cấp quốc gia; cải thiện tiêu chuẩn vùng trồng; mở tín dụng xanh; hình thành chuỗi giá trị hữu cơ đủ lớn; nâng cao năng lực số cho nông dân; bảo đảm doanh nghiệp và hợp tác xã trở thành “nhạc trưởng” kết nối thị trường. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là giữ được niềm tin-niềm tin rằng sản xuất xanh không chỉ là yêu cầu của thời cuộc mà còn là hướng đi đúng của một dân tộc yêu đất, trọng nghĩa tình và thích sống thuận thiên.
Xuân về, trên những cánh đồng, tiếng chim gọi mùa lúa thêm biếc, biển, rừng thêm xanh. Người nông dân vẫn bền bỉ gieo trồng hạt giống, gieo mầm hy vọng vào mùa thu hoạch mới, để đồng xanh thành tiếng hát của niềm tin, thịnh vượng, an lành.
Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/cho-dong-xanh-thanh-tieng-hat-1023969











