Chống gian lận và mua bán hóa đơn trái phép: Cần kiểm tra theo chuỗi, theo dòng vận động của hóa đơn

Sự bùng nổ của thương mại điện tử, kinh tế nền tảng và các giao dịch thanh toán trực tuyến xuyên biên giới đã mở ra không gian cho các phương thức gian lận hóa đơn thế hệ mới. Yêu cầu đặt ra là ngành Thuế phải chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “kiểm tra doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro” sang “kiểm tra theo chuỗi, theo nhóm liên kết và theo dòng vận động của hóa đơn, tiền và hàng hóa”.

Tội phạm hóa đơn không còn hoạt động đơn lẻ

Trong 2 ngày từ ngày 1 - 2/10, Cục Thuế tổ chức Hội nghị chuyên đề về phòng, chống gian lận và mua bán hóa đơn trái phép. Báo cáo tại hội nghị, đại diện Cục Thuế cho biết, việc triển khai hệ thống hóa đơn điện tử theo lộ trình từ năm 2021 và trên phạm vi toàn quốc từ năm 2022 đã tạo nền tảng quan trọng cho đổi mới phương thức quản lý thuế.

Cùng với dữ liệu đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế và tình trạng hoạt động của người nộp thuế, dữ liệu hóa đơn điện tử là nguồn thông tin cốt lõi để cơ quan thuế phân tích giao dịch, đối chiếu thông tin và nhận diện rủi ro.

Phó Cục trưởng Cục Thuế Đặng Ngọc Minh phát biểu tại hội nghị. Ảnh: PT

Phó Cục trưởng Cục Thuế Đặng Ngọc Minh phát biểu tại hội nghị. Ảnh: PT

Đặc biệt, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quản lý thuế trên nền tảng số, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và phối hợp liên ngành. Đây là điều kiện tiên quyết để tăng cường đối chiếu chéo thông tin và nâng cao chất lượng quản lý.

Tuy nhiên, theo đại diện Cục Thuế, sự bùng nổ của thương mại điện tử, kinh tế nền tảng và các giao dịch thanh toán trực tuyến xuyên biên giới đã mở ra không gian cho các phương thức gian lận hóa đơn thế hệ mới.

Theo Ban Kiểm tra (Cục Thuế), tội phạm hóa đơn hiện nay không còn hoạt động đơn lẻ mà hình thành các mạng lưới doanh nghiệp liên kết chặt chẽ về con người, địa chỉ, tài khoản, dòng tiền và hàng hóa trung gian.

Thời gian qua, ngành Thuế đã phối hợp với các cơ quan chức năng triệt phá nhiều đường dây doanh nghiệp “ma” buôn bán hóa đơn quy mô lớn.

Điển hình năm 2025, đã triệt phá Vụ án Nguyễn Minh Tuấn và Lê Long Hậu thành lập 237 doanh nghiệp “ma”, mua bán trên 12.000 hóa đơn với số tiền thuế vi phạm hơn 175 tỷ đồng.

Năm 2026, triệt phá 2 vụ án lớn, gồm vụ Đào Minh Thọ thành lập 108 doanh nghiệp “ma”, mua bán 56.030 hóa đơn với tổng giá trị trước thuế gần 6.000 tỷ đồng; vụ Phạm Ngọc Tuấn thành lập 14 doanh nghiệp “ma”, bán 1.447 hóa đơn, thu lợi bất chính hơn 2,4 tỷ đồng.

Từ thực tiễn này đòi hỏi ngành Thuế phải chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “kiểm tra doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro” sang “kiểm tra theo chuỗi, theo nhóm liên kết và theo dòng vận động của hóa đơn, tiền và hàng hóa”.

5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm chống gian lận hóa đơn

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Cục trưởng Cục Thuế Đặng Ngọc Minh nhấn mạnh, công tác phòng, chống gian lận hóa đơn không chỉ đơn thuần là bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước mà quan trọng hơn là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, bảo đảm sự công bằng và xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch. Do đó, toàn ngành phải kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, hỗ trợ tuân thủ với phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Theo đó, Phó Cục trưởng Đặng Ngọc Minh đề nghị ngành Thuế tập trung thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm:

Một là, nâng cao tính chủ động trong phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý rủi ro về hóa đơn. Công tác phòng ngừa cần được thực hiện thường xuyên, gắn với các khâu đăng ký thuế, sử dụng hóa đơn, kê khai, nộp thuế và hoàn thuế.

Đại diện Thuế các tỉnh, thành phố tham dự hội nghị. Ảnh: PT

Đại diện Thuế các tỉnh, thành phố tham dự hội nghị. Ảnh: PT

Các đơn vị cần chủ động khai thác thông tin, theo dõi diễn biến hoạt động của người nộp thuế, kịp thời nhận diện dấu hiệu bất thường và tổ chức xử lý, theo dõi đến kết quả. Đồng thời, cần chú trọng tuyên truyền, hướng dẫn doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người dân thực hiện đúng quy định, chủ động kiểm tra thông tin giao dịch và phòng tránh việc bị lợi dụng.

Hai là, khai thác hiệu quả dữ liệu, đổi mới phương pháp phân tích và kiểm tra thuế. Cơ quan thuế cần kết hợp dữ liệu hóa đơn với thông tin kê khai, nộp thuế, hoàn thuế và các nguồn thông tin được thu thập, chia sẻ hợp pháp để đối chiếu, đánh giá rủi ro. Đối với các giao dịch có dấu hiệu liên kết, cần mở rộng phân tích theo chuỗi, mạng lưới, xác định đúng các chủ thể và quan hệ giao dịch cần tập trung xác minh.

Lãnh đạo Cục Thuế yêu cầu, cùng với hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin, cầu chú trọng bồi dưỡng kỹ năng phân tích dữ liệu, nhận diện rủi ro, kiểm tra, xác minh và xử lý vi phạm cho công chức; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, tính liêm chính và sự thống nhất trong thực thi công vụ.

Lãnh đạo Cục Thuế đề nghị Ban Kiểm tra phối hợp với các đơn vị chức năng nghiên cứu, hoàn thiện đề xuất mô hình kiểm tra thuế theo mạng lưới dựa trên dữ liệu lớn, qua đó lựa chọn đúng trọng tâm, sử dụng hiệu quả nguồn lực, nâng cao chất lượng kiểm tra và hạn chế ảnh hưởng không cần thiết đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế.

Quá trình xử lý phải có sự liên thông từ phát hiện, phân tích, xác minh đến kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền và cập nhật kết quả vào hệ thống. Sau mỗi vụ việc, cần rà soát lại dấu hiệu đã xuất hiện, chất lượng cảnh báo và những thông tin còn thiếu để bổ sung, hoàn thiện tiêu chí nhận diện rủi ro. Công nghệ hỗ trợ phát hiện và phân tích; công chức thuế phải chủ động đánh giá, xác minh và tham mưu xử lý trên cơ sở pháp luật, hồ sơ, chứng cứ.

Ba là, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị, địa phương và các cơ quan chức năng. Đối với những vụ việc liên quan đến nhiều địa bàn, cần xác định rõ đầu mối chủ trì, trách nhiệm phối hợp và phương thức trao đổi kết quả, bảo đảm thông tin được cung cấp kịp thời, thống nhất và liên tục.

Cơ quan thuế cần chủ động phối hợp với cơ quan Công an, cơ quan đăng ký kinh doanh, Hải quan, các tổ chức tín dụng và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi chức năng, thẩm quyền và quy định pháp luật. Sự phối hợp cần được thực hiện từ trao đổi thông tin, nhận diện dấu hiệu đến xác minh, xử lý vụ việc, phát huy thế mạnh chuyên môn của từng cơ quan.

Các vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận, xử lý cần được nghiên cứu để rút kinh nghiệm về quản lý: dấu hiệu nào có thể nhận diện sớm, khâu nào cần bổ sung thông tin, quy trình nào cần điều chỉnh. Qua đó, kết quả phối hợp không chỉ phục vụ xử lý một vụ việc mà còn giúp nâng cao năng lực phòng ngừa những vi phạm tương tự.

Bốn là, xử lý nghiêm vi phạm, đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. Đối với hành vi gian lận, mua bán hóa đơn trái phép, nhất là hành vi cố ý, có tổ chức, các đơn vị phải kiên quyết xử lý theo quy định; trường hợp có dấu hiệu tội phạm phải kịp thời chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền.

Năm là, chủ động kiến nghị hoàn thiện chính sách, quy trình quản lý và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Từ thực tiễn quản lý, các đơn vị cần phân định rõ những bất cập thuộc quy định pháp luật, quy trình nghiệp vụ hay khâu tổ chức thực hiện; đồng thời, mỗi kiến nghị cần xác định cụ thể vướng mắc, căn cứ, giải pháp và thẩm quyền giải quyết.

Những nội dung thuộc thẩm quyền cần được chủ động xem xét, xử lý; những nội dung vượt thẩm quyền phải được tổng hợp, báo cáo kịp thời. Việc hoàn thiện chính sách, quy trình phải đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống gian lận và đơn giản hóa thủ tục, không làm phát sinh gánh nặng không cần thiết cho người nộp thuế./.

Văn Tuấn

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/chong-gian-lan-va-mua-ban-hoa-don-trai-phep-can-kiem-tra-theo-chuoi-theo-dong-van-dong-cua-hoa-don-204694.html