Chống ngập phía Tây Hà Nội: Cần nhìn từ bài toán kinh tế của cả lưu vực

Tình trạng ngập kéo dài tại lưu vực sông Bùi, sông Tích không chỉ ảnh hưởng đến đời sống người dân mà còn làm gia tăng chi phí cho sản xuất, hạ tầng và hoạt động đầu tư tại khu vực phía Tây Hà Nội.

Yêu cầu nghiên cứu tổng thể cả lưu vực vì thế đặt ra cách tiếp cận mới: chống ngập phải được coi là một khoản đầu tư cho khả năng chống chịu và phát triển kinh tế dài hạn của Thủ đô.

Sáng 23/9, Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Vũ Đại Thắng chủ trì cuộc họp về tình hình và giải pháp tiêu lũ sông Tích, sông Bùi, kết nối trực tuyến tới 14 xã, phường liên quan.

 Quang cảnh cuộc họp.

Quang cảnh cuộc họp.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, đợt mưa kéo dài hơn 4 ngày vừa qua khiến mực nước nhiều sông đồng loạt dâng cao. Sông Tích tại trạm Kim Quan đạt đỉnh 9,12m; sông Bùi tại Yên Duyệt trên 7,8m; sông Đáy tại Ba Thá khoảng 7,2m. Trong khi đó, các tuyến đê bao hữu sông Tích có cao trình khoảng 8m, còn đê bao hữu sông Bùi khoảng 7m, khiến nhiều đoạn bờ bao bị tràn khi nước dâng cao.

Nguyên nhân được xác định chủ yếu liên quan đến mưa lớn kéo dài, dòng chảy và lũ từ thượng nguồn. Khi mực nước trên các sông cùng dâng cao, khả năng bơm tiêu bị hạn chế, làm thời gian ngập kéo dài.

Thực tế cho thấy mức độ ảnh hưởng không nhỏ. Theo số liệu tổng hợp từ các địa phương đến sáng 23/9, hơn 8.500 hộ với gần 33.000 người bị ảnh hưởng; 2.465 hộ với hơn 8.600 người phải sơ tán và hơn 2.600 ngôi nhà bị ngập. Một số trạm bơm cũng bị ngập hoặc gặp sự cố.

Không thể chống ngập theo từng địa giới hành chính

Từ thực trạng trên, Chủ tịch UBND TP Hà Nội yêu cầu nghiên cứu tổng thể lưu vực sông Bùi, sông Tích và kết nối với sông Đáy trên cơ sở dữ liệu địa hình, thủy văn, lượng mưa và diễn biến nhiều năm.

 Một người dân chèo thuyền ở vùng nước ngập ngoại thành Hà Nội (Ảnh:MTTQVN)

Một người dân chèo thuyền ở vùng nước ngập ngoại thành Hà Nội (Ảnh:MTTQVN)

Thay vì xử lý riêng từng tuyến kênh, đê, kè hay từng địa phương, thành phố yêu cầu tính toán khả năng kết nối và điều tiết của toàn hệ thống, đồng bộ dữ liệu về thủy văn, địa hình, địa mạo, hướng dòng chảy và cao trình đê.

Các giải pháp được đặt ra gồm nghiên cứu quy hoạch cao độ và thủy văn khu vực phía Tây; nạo vét các dòng sông để tăng khả năng tiêu thoát và dung tích dòng chảy; cải tạo hồ Văn Sơn; nâng cao năng lực trạm bơm Đầm Mới và nghiên cứu các vị trí phù hợp tại khu vực miền núi để xây dựng hồ chứa lớn nhằm giữ nước, hạn chế lũ rừng ngang. Thành phố cũng đặt vấn đề phối hợp liên vùng đối với những địa phương liên quan tới lưu vực.

Đây là cách tiếp cận đáng chú ý bởi nước không vận hành theo địa giới hành chính.

Một công trình nâng đê ở khu vực này, một tuyến thoát nước được mở rộng ở địa phương khác hay một hồ chứa ở thượng nguồn đều có thể làm thay đổi dòng chảy và khả năng điều tiết của toàn lưu vực.

Vì vậy, nếu mỗi địa phương chỉ tìm cách đưa nước ra khỏi địa bàn của mình nhanh nhất, bài toán ngập có thể đơn giản là được chuyển từ nơi này sang nơi khác.

Quản trị ngập lụt theo lưu vực vì thế cần trả lời đồng thời ba câu hỏi: nước từ đâu đến, có thể giữ nước ở đâu và cần đưa nước đi đâu với tốc độ nào để toàn hệ thống vẫn an toàn.

Chống ngập cũng là một bài toán kinh tế

Dưới góc độ kinh tế môi trường, thiệt hại của một trận ngập không chỉ nằm ở những ngôi nhà bị nước tràn vào.

Đó còn là thời gian sản xuất, kinh doanh bị gián đoạn; giao thông đình trệ; cây trồng, vật nuôi bị thiệt hại; tài sản xuống cấp; chi phí cứu hộ, khắc phục hạ tầng và phục hồi sinh kế. Sau mỗi trận ngập, cả người dân, doanh nghiệp và ngân sách đều phải bỏ thêm nguồn lực để đưa hoạt động kinh tế trở lại bình thường.

Chủ tịch UBND TP Hà Nội cũng lưu ý rằng một trận mưa lớn đã gây thiệt hại đáng kể, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, kinh doanh và có thể tác động đến thu hút đầu tư tại khu vực phía Tây. Đây lại là một trong những trục phát triển quan trọng của Thủ đô, gắn với các định hướng về không gian ngầm, đường sắt đô thị và nhiều công trình hạ tầng lớn.

Do đó, chi phí dành cho chống ngập cần được nhìn nhận không chỉ là chi phí xử lý thiên tai, mà còn là đầu tư bảo vệ năng lực sản xuất và giá trị tài sản của nền kinh tế.

Một hệ thống hồ chứa, trạm bơm, sông ngòi và vùng trữ nước được đầu tư đúng mức có thể phải sử dụng nguồn vốn lớn, nhưng cần đặt khoản đầu tư đó bên cạnh những thiệt hại kinh tế có thể tránh được trong nhiều năm. Đây chính là bài toán chi phí – lợi ích của thích ứng với biến đổi khí hậu.

Từ công trình chống lũ đến hạ tầng tạo giá trị

Một hướng tiếp cận đáng chú ý được Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đề xuất là nghiên cứu xây dựng các hồ chứa lớn tại khu vực miền núi để giữ nước, hạn chế lũ rừng ngang; đồng thời các hồ có thể kết hợp tạo cảnh quan, phát triển du lịch và kinh tế địa phương.

 Lực lượng chức năng cùng nhân dân gia cố bờ kè, hạn chế nước tràn (Ảnh: MTTQVN)

Lực lượng chức năng cùng nhân dân gia cố bờ kè, hạn chế nước tràn (Ảnh: MTTQVN)

Nếu được tính toán trên cơ sở khoa học, đây là tư duy đầu tư hạ tầng đa mục tiêu.

Một hồ chứa không chỉ thực hiện chức năng cắt lũ. Nó còn có thể tạo không gian sinh thái, điều hòa nước, cải thiện cảnh quan và hỗ trợ các hoạt động kinh tế phù hợp. Khi đó, cùng một khoản đầu tư công có thể tạo ra nhiều nhóm lợi ích thay vì chỉ phát huy giá trị trong những thời điểm xảy ra mưa lũ.

Tương tự, việc nạo vét sông cũng được thành phố yêu cầu nghiên cứu tận dụng nguồn tài nguyên thu được cho các công trình phù hợp, thay vì chỉ nhìn vật liệu nạo vét như một loại vật chất cần đưa đi xử lý.

Trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, Hà Nội đã đặt nhiệm vụ phục hồi các dòng sông, trong đó có sông Tích, đồng thời nghiên cứu các công trình điều tiết để quản trị tổng hợp lưu vực. Thành phố cũng định hướng tăng dung tích điều hòa và từng bước tiếp cận mô hình “thành phố bọt biển” nhằm nâng cao khả năng thích ứng với các trận mưa cực đoan.

Bởi vậy, bài toán sông Bùi – sông Tích cần vượt ra khỏi tư duy “mưa lớn thì chống ngập”.

Điều cần thiết hơn là hình thành một hệ thống quản trị nước đủ khả năng giữ nước khi cần giữ, tiêu nước khi cần tiêu và dành đủ không gian cho nước trong quá trình phát triển đô thị.

Khi biến đổi khí hậu khiến những trận mưa cực đoan ngày càng khó dự báo, khả năng chống chịu với ngập lụt không còn đơn thuần là một chỉ tiêu môi trường. Đó còn là một thành tố của năng lực cạnh tranh đô thị, bởi một khu vực muốn thu hút dân cư, doanh nghiệp và những dự án hạ tầng lớn trước hết phải bảo đảm được sự an toàn và ổn định cho các hoạt động kinh tế diễn ra trên chính không gian đó.

Quỳnh An

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/chong-ngap-phia-tay-ha-noi-can-nhin-tu-bai-toan-kinh-te-cua-ca-luu-vuc-118881.html