Chủ động phòng ngừa từ những dữ liệu môi trường
Quan trắc môi trường đang trở thành “tai mắt” của công tác quản lý, giúp nhận diện nguy cơ trước khi trở thành sự cố, phát hiện biến động bất thường để hành động kịp thời. Với một tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh như Thái Nguyên, việc xây dựng mạng lưới quan trắc đủ rộng, dữ liệu đủ sâu và khả năng cảnh báo đủ nhanh trở thành yêu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ môi trường từ sớm, từ xa.

Sự cố vỡ bờ bao hồ chứa nước tuần hoàn tại Nhà máy luyện gang Nam Son, thuộc Công ty CP Luyện kim đen Thái Nguyên, xảy ra tháng 10-2025, ảnh hưởng đến một số hộ dân xung quanh.
Những cảnh báo không thể bỏ qua
Trong 5 năm qua, những bất thường về môi trường tại Thái Nguyên xuất hiện ở nhiều quy mô, liên quan đến nguồn nước, không khí và chất thải sản xuất. Năm 2022, người dân phản ánh tình trạng ô nhiễm sông Thần Sa, một phụ lưu của sông Cầu. Nguồn nước tại đây có thời điểm mang màu nâu đỏ, đục và nhiều bùn đất; người dân cho biết không thể sử dụng cho sinh hoạt, sản xuất.
Qua khảo sát, cơ quan chức năng nhận định hoạt động khai thác khoáng sản ở khu vực thượng nguồn là một trong những yếu tố có thể liên quan đến tình trạng này. Cũng trong năm đó, người dân xóm Na Vùng, xã Bình Sơn (nay là xã Tân Cương) phản ánh nước thải từ một trang trại chăn nuôi lợn chảy ra suối, gây mùi hôi và làm nguồn nước ô nhiễm.
Đến tháng 3 và 4-2023, câu chuyện trên sông Đu tiếp tục đặt ra một vấn đề đáng suy nghĩ. Đoạn sông qua khu vực Sơn Cẩm (nay là phường Quan Triều) xuất hiện tình trạng nước chuyển màu đen, bốc mùi, cá chết bất thường. Trong khi đó, phía thượng nguồn có nhiều cơ sở chế biến than, trang trại chăn nuôi và cơ sở chế biến khoáng sản có nguồn thải ra sông.
Sau phản ánh của các cơ quan báo chí, chính quyền địa phương đã chỉ đạo kiểm tra các cơ sở sản xuất, chăn nuôi có nguồn nước thải xuống sông. Những sự việc ấy cho thấy một khoảng trống cần được lấp đầy. Không chỉ quan trắc để biết môi trường đang ở đâu, mà phải quan trắc để biết môi trường đang đi về đâu.

Hệ thống xử lý môi trường được tăng cường nhằm kiểm soát, giảm thiểu nguy cơ phát sinh ô nhiễm trong quá trình sản xuất.
Trong tháng 4-2026, sự cố tràn nước thải từ bãi rác Sông Công cũng gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ ô nhiễm nguồn nước từ rác thải chưa được xử lý triệt để. Chính quyền và các cơ quan chức năng đã vào cuộc, đưa ra những giải pháp cụ thể xử lý bãi rác Sông Công, bảo đảm môi trường cho khu vực này.
Đó là sự khác nhau giữa quản lý bị động và quản lý chủ động. Năm 2024 và 2025, thiên tai liên tiếp cho thấy môi trường và hệ thống quan trắc phải đối mặt với những rủi ro mới. Bão số 3 Yagi năm 2024 và bão số 11 Matmo năm 2025 với mưa lũ lịch sử gây thiệt hại lớn trên địa bàn tỉnh. Không chỉ nhà cửa, cơ sở hạ tầng, sản xuất bị ảnh hưởng, một số trạm quan trắc môi trường tự động trên sông Cầu, sông Công cũng bị hư hỏng nghiêm trọng. Theo thông tin của ngành chức năng, 4 trạm quan trắc nước tự động bị hư hỏng nhà trạm và thiết bị, phải tạm dừng hoạt động. Đây là một bài học quan trọng, đó là muốn quan trắc từ sớm, từ xa thì chính hệ thống quan trắc cũng phải đủ sức chống chịu trước thiên tai và biến đổi khí hậu.
Tháng 10-2025, sự cố vỡ bờ bao hồ chứa nước tuần hoàn tại Nhà máy luyện gang Nam Son thuộc Công ty cổ phần Luyện kim đen Thái Nguyên đã ảnh hưởng đến một số hộ dân xung quanh. Tỉnh đã chỉ đạo kiểm tra thực địa, lấy mẫu quan trắc các thành phần môi trường để đánh giá phạm vi, mức độ ảnh hưởng và triển khai các biện pháp khoanh vùng, khắc phục.
Những sự cố như vậy cho thấy quan trắc sau sự cố là cần thiết. Nhưng quan trọng hơn là phải có quan trắc trước sự cố để nhận diện nguy cơ, nhất là tại những hồ chứa, bãi thải, mỏ khoáng sản, cơ sở luyện kim, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các cơ sở có nguy cơ phát sinh nguồn thải lớn.
Mở rộng mạng lưới, làm giàu dữ liệu quan trắc
Thái Nguyên hiện đã có mạng lưới quan trắc khá rộng. Theo số liệu ngành chức năng, mạng lưới quan trắc định kỳ được duy trì trên nhiều thành phần môi trường. Đối với nước mặt, quan trắc 5-10 đợt/năm tại 109 điểm; không khí 5-6 đợt/năm tại 71 điểm; nước dưới đất 4 đợt/năm tại 35 điểm; đất 2 đợt/năm tại 30 điểm. Ngoài ra còn quan trắc trầm tích tại 6 điểm và nước thải tại 38 điểm.
Đây là mạng lưới có ý nghĩa đặc biệt sau khi Thái Nguyên và Bắc Kạn được hợp nhất. Không gian quản lý môi trường hiện rộng hơn, điều kiện tự nhiên và các nguồn gây tác động cũng đa dạng hơn. Việc xây dựng dữ liệu liên tục theo từng vùng, từng lưu vực sông, từng khu vực sản xuất sẽ giúp cơ quan quản lý không chỉ nhìn thấy một điểm ô nhiễm riêng lẻ mà nhận diện được cả chuỗi tác động trong không gian môi trường.

Công ty CP Nhiệt điện Cao Ngạn lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động đối với khí thải và nước thải, góp phần giám sát liên tục các thông số môi trường trong quá trình sản xuất.
Theo ông Cao Cảnh Dũng, Phó phòng Cơ điện và An toàn môi trường, Công ty cổ phần Xi măng La Hiên (xã La Hiên): Việc lắp hệ thống quan trắc tự động khí thải góp phần quan trọng cho đơn vị không chỉ trong thực hiện công tác bảo vệ môi trường mà còn cảnh báo những sự cố của hệ thống xử lý môi trường, giúp đơn vị phát hiện sớm những hỏng hóc máy móc để sửa chữa kịp thời.
Hệ thống quan trắc tự động cũng đang từng bước trở thành công cụ quan trọng. Hiện Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường Thái Nguyên được giao quản lý 9 trạm, gồm 4 trạm không khí và 5 trạm nước mặt. Hiện 4 trạm không khí và 1 trạm nước mặt hoạt động tương đối ổn định, truyền dữ liệu liên tục về cơ quan quản lý.
Đặc biệt, tỉnh đang tiếp nhận dữ liệu từ 42 hệ thống quan trắc tự động, liên tục tại các cơ sở sản xuất, gồm 18 hệ thống quan trắc khí thải và 24 hệ thống quan trắc nước thải. Đây là nguồn dữ liệu có giá trị trong giám sát hoạt động xả thải của doanh nghiệp.
Theo thông tin mới nhất của tỉnh, mạng lưới quan trắc giai đoạn 2026-2030 được định hướng với gần 300 điểm quan trắc và 9 trạm tự động; đồng thời tỉnh đang tham mưu đầu tư thêm 3 trạm quan trắc không khí và 1 trạm quan trắc nước mặt.
Những con số ấy cho thấy quan trắc môi trường đang chuyển từ phương thức “đi lấy mẫu khi cần” sang một hệ thống giám sát có quy mô, có dữ liệu và từng bước tự động hóa. Vấn đề đặt ra hiện nay không còn đơn giản là có bao nhiêu điểm quan trắc, bao nhiêu trạm tự động, mà là dữ liệu quan trắc có được chuyển hóa thành hành động quản lý hay không.
Ông Ngô Như Cường, Phó phòng Kỹ thuật an toàn, Công ty Nhiệt điện Cao Ngạn (phường Quan Triều), cho biết: Khi có hệ thống quan trắc tự động, chỉ một chỉ số nước thải biến động bất thường lập tức được cảnh báo và kiểm tra ngay, thay vì chờ đến kỳ thanh tra.
Biến dữ liệu thành năng lực cảnh báo, phòng ngừa
Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên đang hoàn thiện mạng lưới quan trắc tự động theo các vùng có nguy cơ cao, ưu tiên lưu vực sông Cầu, sông Công, sông Đu, sông Thần Sa; khu vực khai khoáng, luyện kim, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề và các đô thị có mật độ giao thông, xây dựng lớn.
Tỉnh tập trung xây dựng bản đồ rủi ro môi trường theo không gian và thời gian. Dữ liệu quan trắc sẽ được tích hợp với dữ liệu về nguồn thải, khí tượng, thủy văn, dân cư, sản xuất và sử dụng đất. Từ đó, cơ quan quản lý có thể xác định những “điểm nóng tiềm ẩn” trước khi chúng trở thành điểm nóng thực tế.

Kiểm tra hệ thống quan trắc môi trường tại Công ty CP Môi trường Việt Xuân Mới.
Tỉnh sẽ hướng tới xây dựng ngưỡng cảnh báo nhiều cấp. Những biến động tăng dần, dù chưa vượt quy chuẩn, cũng cần được nhận diện để tìm nguyên nhân. Chính sự thay đổi theo xu hướng mới là tín hiệu quan trọng để phòng ngừa. Ngoài ra, dữ liệu quan trắc phải được kết nối và chia sẻ.
Cơ quan quản lý cần một trung tâm dữ liệu môi trường thống nhất, có khả năng tiếp nhận dữ liệu từ các trạm của tỉnh và hệ thống quan trắc tại doanh nghiệp, tự động phân tích, cảnh báo và lưu trữ. Những dữ liệu cơ bản về chất lượng môi trường cũng cần được công khai phù hợp để người dân, doanh nghiệp và cơ quan báo chí có thể cùng tham gia giám sát. Đặc biệt, quan trắc phải gắn chặt với trách nhiệm của chủ nguồn thải.
Ông Ngô Văn Trung, Trợ lý Tổng giám đốc Công ty cổ phần Môi trường Việt Xuân Mới (phường Phúc Thuận), cho biết: Doanh nghiệp có hệ thống quan trắc tự động không chỉ để đáp ứng quy định mà phải coi dữ liệu đó là một phần của hệ thống quản trị rủi ro. Khi phát hiện bất thường, phải có quy trình dừng, cô lập, xử lý và báo cáo sự cố rõ ràng.
Bảo vệ môi trường từ sớm, từ xa đòi hỏi quan trắc phải đi trước, kịp thời nhận diện biến động và nguyên nhân để cảnh báo, xử lý trước khi phát sinh sự cố. Một dòng sông sạch hay bầu không khí an toàn không chỉ được đánh giá qua những mẫu đo đạt quy chuẩn tại từng thời điểm, mà phải được nhìn nhận qua xu hướng biến động và những nguy cơ có thể phát sinh.
Thái Nguyên đang bước vào giai đoạn phát triển mới với quy mô công nghiệp, đô thị và hạ tầng ngày càng lớn, kéo theo yêu cầu cao hơn về quản lý môi trường. Khi dữ liệu từ các trạm quan trắc, nguồn thải và các yếu tố liên quan được kết nối, phân tích và chuyển hóa thành cảnh báo, công tác bảo vệ môi trường sẽ chủ động hơn, giúp tỉnh nhận diện nguy cơ trước khi trở thành hậu quả, nâng cao năng lực phòng ngừa và hướng tới phát triển xanh, bền vững.
Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/chu-dong-phong-ngua-tu-nhung-du-lieu-moi-truong-2t3y3b5m


