Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu: Bước đi mới của người dân ven biển Nam Trung Bộ

Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức lớn cho các địa phương ven biển, đặc biệt là tại tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa. Tuy nhiên, thay vì đến khi thiên tai xảy ra mới ứng phó, người dân nơi đây đã chủ động chuẩn bị trước, giảm thiểu thiệt hại và tìm kiếm những giải pháp bền vững hơn...

Tôm hùm nuôi trong lồng của người dân Sông Cầu, tỉnh Đăk Lăk. Ảnh Ngô Anh Văn

Tôm hùm nuôi trong lồng của người dân Sông Cầu, tỉnh Đăk Lăk. Ảnh Ngô Anh Văn

Thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên cũ (nay là phường Sông Cầu, tỉnh Đăk Lăk) - "Thủ phủ tôm hùm", hiện có khoảng 4.000-4.800 hộ nuôi thủy sản, trong đó, có khoảng 2.000 hộ nuôi tôm (chủ yếu là nuôi tôm hùm thương phẩm trong lồng bè) với quy mô ước tính gần 93.000 lồng nuôi. 

Trước những tác động tiêu cực ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu đối với đời sống và sản xuất, người dân nơi đây đã chủ động triển khai các biện pháp phòng chống, nhằm thích ứng và sống chung với những điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt của dải đất ven biển miền Trung

BÀI HỌC TỪ THIÊN TAI CHUYỂN THÀNH NHỮNG PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT MỚI, CHỦ ĐỘNG PHÒNG CHỐNG

Những ký ức đau thương từ mùa lũ năm trước của ngư dân trong vùng vẫn còn ám ảnh ông Nguyễn Văn Lai và Nguyễn Hữu Lộc ở phường Sông Cầu. Họ từng mất trắng tài sản do nước ngọt từ thượng nguồn đổ về sau bão, khiến tôm nuôi chết hàng loạt. Riêng với hộ nuôi Nguyễn Hữu Lộc, thiệt hại khoảng 98% số tôm trong vụ nuôi trước bị chết…

Tuy nhiên, chính từ những tổn thất ấy đã thúc đẩy người dân thay đổi cách tiếp cận để chủ động phòng chống, thay đổi cách làm. Người nuôi tôm nơi đây không còn giữ cách làm cũ mà chủ động phòng chống ngay khi có dự báo mưa lớn. “Năm nay, chúng tôi không chờ đợi như mấy năm trước nữa”, ông Lộc nói quả quyết.

Cũng như ông Lộc, khi có dự báo mưa lớn kéo dài, người dân vùng nuôi đã chủ động theo dõi diễn biến thời tiết, hạ lồng nuôi xuống sâu, sát đáy biển để hạn chế tác động của lớp nước ngọt phía trên. Cách làm này giúp giảm thiểu tác động của nước ngọt đến tôm nuôi trong lồng.

Đầm Ô Loan, nơi có hàng trăm lồng nuôi tôm hùm của người dân. Ảnh Ngô Anh Văn

Đầm Ô Loan, nơi có hàng trăm lồng nuôi tôm hùm của người dân. Ảnh Ngô Anh Văn

Vụ nuôi mới này, ông Lai cũng đã chủ động hạ lồng xuống sát đáy khi bước vào mùa mưa. Lứa tôm đầu tiên trong vụ mới được xuất bán, phần nào giúp gia đình gỡ lại vốn sau thiệt hại lớn của năm trước.

Từ một vùng nuôi tôm nổi tiếng, Sông Cầu đã trải qua biến động khi những lồng bè bị tàn phá sau cơn bão năm trước. Tuy nhiên, phường Sông Cầu hiện đang chứng kiến một sự thay đổi mạnh mẽ: những bài học kinh nghiệm từ thiên tai đã được áp dụng để chuyển thành những phương thức sản xuất mới, hiệu quả hơn.

Không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ tài sản cá nhân, cộng đồng tại đây còn phối hợp với lực lượng chức năng để chủ động chằng chống nhà cửa và đưa ghe thuyền lên bờ trước khi bão đến. 

Ý thức chủ động bảo vệ tài sản và tính mạng của người dân đã được nâng cao qua các mùa mưa bão.

Thiếu tá Lê Thanh Kiệt Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự phường Sông Cầu

Tại xã Phú Hòa 1, tỉnh Đắk Lắk, việc chủ động phòng tránh lũ được thể hiện rõ qua các công trình và phương tiện cứu hộ được chuẩn bị trước mùa mưa. Những căn nhà sinh hoạt cộng đồng kiên cố đã được xây dựng, tạo nơi trú ẩn an toàn cho người dân vùng thấp khi nước dâng. Trung tá Hà Mạnh Phương, Chính trị viên phó Ban Chỉ huy Quân sự xã Phú Hòa 1, nhấn mạnh rằng phương án năm nay không chờ đến khi nước ngập mới sơ tán, mà đã xác định trước các điểm tránh trú an toàn.

Trên thượng nguồn, hồ thủy điện Sông Ba Hạ đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy và cảnh báo cho khu vực hạ du. Hệ thống cảnh báo được kích hoạt khi mực nước hồ vượt ngưỡng, giúp người dân có thêm thời gian chuẩn bị ứng phó.

QUẢN TRỊ DÒNG NƯỚC TỪ THƯỢNG NGUỒN ĐẾN HẠ DU

Nếu ở vùng ven biển, người dân đang tìm cách giảm thiệt hại trực tiếp từ bão gió và nước ngọt dồn xuống những đầm nuôi tôm thì trên thượng nguồn, việc quản lý, điều tiết dòng nước từ thượng nguồn cũng là một mắt xích quan trọng.

Hồ thủy điện Sông Ba Hạ được xây dựng trên dòng sông Ba (còn gọi là sông Đà Rằng bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đổ ra biển Đông qua địa phận tỉnh Phú Yên cũ) có dung tích khoảng 349 triệu m3 nước, giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy trên lưu vực sông Ba. Tại đây, công tác vận hành hồ gắn với theo dõi mực nước, dự báo, cảnh báo cho khu vực hạ du phải được thực hiện nghiêm ngặt theo quy trình để vừa đảm bảo nước cho thủy điện, tưới tiêu và đời sống cư dân trong vùng.

Theo bộ phận kỹ thuật trực vận hành đập thủy điện Sông Ba Hạ, khi mực nước hồ vượt ngưỡng phải thực hiện xả điều tiết, hệ thống cảnh báo được kích hoạt để thông tin đến các khu vực phía dưới. Hệ thống gồm các trạm hú còi được bố trí dọc sông Ba, giúp chính quyền và người dân có thêm thời gian chủ động ứng phó.

Hằng năm, khi vào dịp mùa mưa lũ sắp đến, từ vùng biển đến các khu vực ven bờ, từ những vùng trũng thấp cho đến thượng nguồn, các đơn vị và địa phương đều triển khai một chuỗi các phương án ứng phó đồng bộ.  Người nuôi tôm ven biển chủ động hạ lồng; chính quyền các địa phương vùng ảnh hưởng chuẩn bị điểm tránh trú và phương tiện cứu hộ…; Ban quản lý hồ thủy điện tăng cường túc trực cảnh báo khi vận hành điều tiết nước.

THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, SỐNG CHUNG VỚI THIÊN NHIÊN

Ở khu vực ven biển xã Vĩnh Hải, tỉnh Khánh Hòa, điều kiện khí hậu khắc nghiệt từng được xem là một trở ngại đối với sản xuất, nhưng nay đang trở thành một phần tạo nên sức hút riêng của điểm đến. Tại vùng ven biển này, một cách tiếp cận khác cũng đang được người dân thực hiện, đó là phục hồi hệ sinh thái để vừa giảm tác động của thiên tai vừa tạo sinh kế cho cộng đồng.

Ở khu vực Mỹ Hòa, rừng đước được cộng đồng phối hợp với Vườn quốc gia Núi Chúa – Phước Bình khôi phục và trồng dặm trong nhiều năm qua. Lực lượng tình nguyện viên đội bảo vệ rừng ngập mặn là lực lượng nòng cốt hướng dẫn kỹ thuật trồng đước nhằm bảo đảm cho cây bám chắc vào nền bùn để chống tác động của sóng, giúp tỷ lệ cây sống đạt cao.

Ông Phạm Văn Xiêm, Trưởng phòng Quản lý Tài nguyên và Dự trữ sinh quyển (Ban Quản lý Vườn quốc gia Núi Chúa – Phước Bình), cho biết cánh rừng ngập mặn Mỹ Hòa này được phối hợp khôi phục, trồng dặm từ năm 2005.

Cùng với việc phục hồi rừng, Vườn quốc gia còn hỗ trợ ngao giống để người dân nuôi dưới tán rừng đước. Ngao và rừng đước tạo thành mô hình kết hợp, vừa tạo nguồn thu nhập vừa giúp cộng đồng có thêm động lực bảo vệ hệ sinh thái.

Những cách làm ấy cho thấy thích ứng không chỉ nằm ở những công trình lớn. Nó bắt đầu từ một lồng tôm được hạ xuống trước khi mưa lớn, một chiếc ca nô được đưa về nơi vùng trũng, một hồi còi cảnh báo được phát đi trước khi nước dâng…, và những cây đước được trồng xuống bãi bồi.

Chủ động thích ứng không chỉ là tìm cách giảm thiệt hại. Khi điều kiện tự nhiên thay đổi, một câu hỏi khác cũng đặt ra, đó là làm thế nào để con người điều chỉnh sinh kế, biến những đặc trưng của tự nhiên thành nguồn lực cho cuộc sống lâu dài?

Nếu chủ động trước thiên tai là cách giảm thiểu những tổn thất có thể xảy ra, thì thích ứng với biến đổi khí hậu còn là một hành trình dài hơn: thay đổi cách sản xuất, phục hồi hệ sinh thái và tìm kiếm những sinh kế mới phù hợp với điều kiện tự nhiên.

Những nỗ lực này cho thấy sự chuyển đổi từ bị động sang chủ động trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Người dân không chỉ tìm cách giảm thiệt hại mà còn điều chỉnh sinh kế, biến những đặc trưng của tự nhiên thành nguồn lực cho cuộc sống lâu dài. Từ việc hạ lồng tôm, xây dựng nhà tránh lũ đến phục hồi rừng đước, tất cả đều là những bước đi thiết thực, giúp cộng đồng sống chung với biến đổi khí hậu một cách bền vững hơn.

Ngô Anh Văn

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/chu-dong-ung-pho-bien-doi-khi-hau-buoc-di-moi-cua-nguoi-dan-ven-bien-nam-trung-bo.htm