Chuẩn hóa năng lực AI cho giáo viên, tạo nền tảng đổi mới giáo dục
Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI) đặt ra yêu cầu mới đối với đội ngũ nhà giáo.

Bên cạnh trang bị kiến thức, kỹ năng sử dụng AI, giáo viên cần hình thành năng lực khai thác công nghệ để thiết kế bài học, phát triển học liệu, cá thể hóa việc học và tổ chức môi trường giáo dục phù hợp với thời đại số.
Từ khung năng lực đến năng lực nghề nghiệp
Bà Lê Anh Lan, chuyên gia giáo dục của UNICEF - cho biết, những năm qua, UNICEF đã đồng hành cùng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam trong nhiều hoạt động liên quan đến AI trong giáo dục như: xây dựng khung năng lực AI cho học sinh, tập huấn năng lực AI cho giáo viên, phát triển phần mềm thực tế ảo AVR ứng dụng game cho trẻ, biên soạn tài liệu hướng dẫn ứng dụng AI trong các môn học, đồng thời tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo chuyên môn.
Theo bà Lê Anh Lan, để bảo đảm tính bền vững và liên thông, cần lồng ghép khung năng lực AI vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên hiện hành. Cùng với đó là xây dựng hệ thống đánh giá, công nhận năng lực AI gắn với khung năng lực số mà Bộ GD&ĐT đã ban hành.
Việc tăng cường hợp tác với các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và chuyên gia trong nước, quốc tế cũng được xem là giải pháp thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong giáo dục phổ thông.
“Khung năng lực AI cho giáo viên phổ thông sẽ là nền tảng quan trọng để Việt Nam xây dựng đội ngũ nhà giáo sẵn sàng thích ứng với thời đại số, góp phần mang lại cơ hội học tập công bằng và chất lượng cho mọi trẻ em” - bà Lê Anh Lan nhận định.
Từ góc độ đào tạo giáo viên, PGS.TS Tưởng Duy Hải - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - cho rằng, không nên đặt vấn đề “đào tạo lại” đội ngũ hỗ trợ giáo dục đại học. Các trợ giảng đều có trình độ đại học trở lên và được cập nhật kiến thức, chuyên môn hằng năm theo tiêu chuẩn của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục đại học.
Do đó, yêu cầu mới cần được nhìn nhận như một bước cụ thể hóa, chuẩn hóa nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ của đội ngũ hỗ trợ giáo dục đại học, đáp ứng xu hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
“Đối với các trường đào tạo giáo viên, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi đặt ra sự chuyển đổi từ mô hình sử dụng AI trong học tập, hỗ trợ chuyên môn sang mô hình “dạy cùng AI, sáng tạo cùng AI” - PGS.TS Tưởng Duy Hải nhấn mạnh.
Theo PGS.TS Tưởng Duy Hải, giảng viên và trợ giảng cần biết khai thác AI không chỉ để thiết kế bài học, phát triển học liệu số, cá thể hóa việc học, hỗ trợ kiểm tra, đánh giá và nâng cao hiệu quả nghiên cứu; mà còn cùng AI tổ chức dạy học, tạo môi trường để học sinh sáng tạo cùng AI.
Không chỉ biết sử dụng, phải làm chủ AI trong giáo dục

Ảnh minh họa/internet.
Theo PGS.TS Tưởng Duy Hải, Nhà nước đã ban hành khung năng lực số cho người học và nhà giáo. Việc học và ứng dụng AI, sáng tạo số cùng AI vì vậy đã được cụ thể hóa thành những tiêu chuẩn, tiêu chí đầu ra đối với người học, giảng viên và giáo viên.
Từ đó, người trẻ nói chung và những người làm công tác hỗ trợ giáo dục, đào tạo nói riêng cần trang bị kiến thức về AI, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo để theo kịp yêu cầu đổi mới giáo dục.
Điểm quan trọng, theo PGS.TS Tưởng Duy Hải là cần coi AI như một năng lực nghề nghiệp cần có, chứ không chỉ là một công cụ. Đây là định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp nhằm đáp ứng môi trường làm việc hiện tại và tương lai.
Cùng với đó, người học và đội ngũ hỗ trợ giáo dục cần rèn luyện năng lực số phục vụ nghiên cứu khoa học, đồng thời phát triển năng lực sư phạm AI.
Tuy nhiên, để những yêu cầu về năng lực AI có thể triển khai hiệu quả, điều kiện hạ tầng và khả năng tiếp cận công nghệ cũng cần được quan tâm. PGS.TS Đỗ Văn Hùng, Trưởng khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) - cho rằng, quá trình triển khai cần có lộ trình từng bước, đồng thời có chính sách hỗ trợ các vùng khó khăn.
Theo đó, cần đầu tư hạ tầng công nghệ, thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập của giáo viên, học sinh; phát triển nền tảng học tập và học liệu số, qua đó bảo đảm những điều kiện cơ bản để dạy và học, hướng tới yêu cầu tối thiểu về năng lực số của người học.
“Khi chúng ta triển khai thành công năng lực số, sẽ góp phần giảm khoảng cách số giữa các vùng miền trên cả nước”- PGS.TS Đỗ Văn Hùng nhận định.
Từ góc độ quản lý giáo dục, ông Nguyễn Thế Sơn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông (Bộ GD&ĐT) - nhấn mạnh, học tập phải đi liền với giảng dạy. Nếu muốn triển khai giáo dục AI cho học sinh phổ thông, giáo viên phải được trang bị những kiến thức cơ bản, cần thiết về AI và hình thành năng lực AI đáp ứng yêu cầu dạy, học.
Theo ông Nguyễn Thế Sơn, việc xác định các miền năng lực AI của giáo viên, gắn với tiêu chí, chỉ báo cụ thể, cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, phù hợp với từng nhóm đối tượng giáo viên. Đồng thời, khung năng lực này phải bảo đảm tính đồng bộ với Khung nội dung giáo dục AI dành cho học sinh phổ thông khi triển khai.
Như vậy, chuẩn hóa năng lực AI cho giáo viên không chỉ dừng ở việc trang bị khả năng sử dụng một công cụ công nghệ. Vấn đề quan trọng hơn là hình thành năng lực nghề nghiệp mới, giúp nhà giáo chủ động khai thác AI trong dạy học, nghiên cứu và phát triển học liệu, đồng thời tạo môi trường để người học sử dụng AI một cách sáng tạo.
Việc kết hợp giữa chuẩn năng lực, đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên, điều kiện hạ tầng, học liệu số và cơ chế đánh giá phù hợp sẽ là những yếu tố quan trọng để đưa AI trở thành một thành tố của quá trình đổi mới giáo dục, thay vì chỉ là một công cụ hỗ trợ nhất thời.

