Chứng nhận hữu cơ: Người sản xuất cần chuẩn bị những gì?
Để được cấp chứng nhận hữu cơ, cơ sở sản xuất phải chứng minh việc tuân thủ tiêu chuẩn bằng cả thực hành tại đồng ruộng, trang trại và hồ sơ theo dõi. Quá trình này bắt đầu từ lựa chọn tiêu chuẩn, tổ chức chuyển đổi, đánh giá thực tế đến duy trì giám sát sau chứng nhận.

Đối chiếu sổ canh tác trên ruộng
Sử dụng phân hữu cơ, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật hóa học hay có kết quả kiểm nghiệm đạt yêu cầu chưa đủ để một sản phẩm được chứng nhận hữu cơ. Tổ chức chứng nhận phải xem xét toàn bộ quá trình sản xuất trong phạm vi đăng ký, từ điều kiện đất, nước, giống, vật tư đầu vào đến thu hoạch, sơ chế, bảo quản và truy xuất nguồn gốc.
Với người dân, hiểu đúng quy trình ngay từ đầu sẽ giúp chủ động thời gian, chi phí và tránh chuẩn bị hồ sơ thiếu hoặc không phù hợp.
Chọn đúng tiêu chuẩn, đúng đơn vị chứng nhận
Trước khi đăng ký, cơ sở cần xác định sản phẩm dự kiến bán cho ai, thị trường yêu cầu tiêu chuẩn nào và phạm vi cần chứng nhận đến đâu.
Nếu lựa chọn tiêu chuẩn Việt Nam, cơ sở phải xác định các phần liên quan trong bộ TCVN 11041. Chẳng hạn, sản xuất rau cần xem xét yêu cầu chung và yêu cầu trồng trọt; với những sản phẩm hoặc phương thức sản xuất chuyên biệt, phải đối chiếu thêm phần tiêu chuẩn tương ứng. Nếu phục vụ thị trường xuất khẩu, cần làm rõ yêu cầu của khách hàng và tiêu chuẩn mà thị trường đó chấp nhận.
Tiếp đó là lựa chọn tổ chức chứng nhận có đủ điều kiện, phạm vi hoạt động phù hợp. Cần phân biệt đơn vị tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật với tổ chức có thẩm quyền thực hiện đánh giá và cấp chứng nhận.
Trước khi ký hợp đồng, người sản xuất nên yêu cầu làm rõ phạm vi đánh giá, thành phần hồ sơ, thời gian dự kiến, chi phí đánh giá, kiểm nghiệm, giám sát và điều kiện sử dụng dấu chứng nhận. Không nên hiểu việc nộp hồ sơ hoặc thanh toán phí là đã đủ điều kiện được cấp giấy.
Chuẩn bị sản xuất và hồ sơ từ đầu
Cơ sở cần rà soát lịch sử sử dụng đất, nguồn nước, nguy cơ ô nhiễm từ khu vực lân cận, tình trạng sử dụng vật tư và khả năng bố trí vùng đệm. Kho chứa, dụng cụ, khu sơ chế và bảo quản cũng phải được quản lý để hạn chế nhiễm bẩn, lẫn sản phẩm.
Hồ sơ đăng ký thường gồm thông tin pháp lý của chủ thể, đơn đăng ký, danh mục sản phẩm, diện tích hoặc quy mô sản xuất, sơ đồ khu vực và các tài liệu theo yêu cầu của tiêu chuẩn, chương trình chứng nhận.
Đối với nhóm hộ, cần có danh sách thành viên, xác định rõ diện tích, sản phẩm của từng hộ và cách tổ chức kiểm soát nội bộ. Cơ sở cũng cần chuẩn bị quy trình sản xuất, hồ sơ vật tư, nhật ký canh tác, ghi chép thu hoạch, bảo quản, bán hàng và kết quả tự kiểm tra.
Hồ sơ phải phản ánh công việc thực tế. Ví dụ, một lần bón phân cần ghi được loại phân, nguồn mua, thời điểm, lượng sử dụng và thửa ruộng áp dụng. Khi thu hoạch, phải theo dõi được sản lượng và nơi tiếp nhận để phục vụ truy xuất.
Danh mục biểu mẫu có thể khác nhau giữa các chương trình chứng nhận. Người sản xuất cần lấy hướng dẫn trực tiếp từ tổ chức đã lựa chọn, tránh sao chép nguyên bộ hồ sơ của một cơ sở khác.
Hiểu đúng giai đoạn chuyển đổi
Chuyển đổi là khoảng thời gian cơ sở áp dụng yêu cầu sản xuất hữu cơ trước khi sản phẩm đủ điều kiện được chứng nhận. Trong thời gian này, việc sử dụng vật tư, quản lý sản xuất và ghi chép vẫn phải tuân thủ tiêu chuẩn đã chọn.
Theo TCVN 11041-2:2017, thời gian chuyển đổi thông thường đối với cây hằng năm là ít nhất 12 tháng trước khi gieo hạt hoặc trồng cây; đối với cây lâu năm là ít nhất 18 tháng trước khi thu hoạch vụ đầu tiên. Mốc bắt đầu phải có căn cứ hồ sơ và được xem xét theo tiêu chuẩn. Những trường hợp điều chỉnh thời gian chuyển đổi cần có cơ sở đánh giá, không do người sản xuất tự quyết định.
Các mốc trên dành cho trồng trọt theo tiêu chuẩn được viện dẫn, không áp dụng chung cho mọi lĩnh vực hoặc tiêu chuẩn hữu cơ.
Nếu chương trình chứng nhận có cấp văn bản xác nhận cơ sở đang chuyển đổi, văn bản đó phải được phân biệt với chứng nhận sản phẩm hữu cơ. Người sản xuất không được dùng xác nhận chuyển đổi để giới thiệu sản phẩm như đã hoàn thành chứng nhận hữu cơ.
Đánh giá tại cơ sở, khắc phục điểm chưa phù hợp
Sau khi tiếp nhận và xem xét hồ sơ, tổ chức chứng nhận lập kế hoạch đánh giá, xác định đoàn đánh giá và làm việc với cơ sở về lịch triển khai.
Tại hiện trường, chuyên gia kiểm tra điều kiện sản xuất, vùng đệm, nguồn nước, kho vật tư, dụng cụ và khu vực xử lý sản phẩm. Đồng thời, đoàn đối chiếu hồ sơ với thực tế, trao đổi với người trực tiếp sản xuất và kiểm tra khả năng truy xuất.
Việc lấy mẫu, kiểm nghiệm được thực hiện theo yêu cầu của chương trình chứng nhận và đánh giá rủi ro. Theo Nghị định 109/2018/NĐ-CP, chứng nhận phù hợp TCVN về nông nghiệp hữu cơ bao gồm đánh giá, giám sát quá trình sản xuất và thử nghiệm mẫu khi có nghi ngờ về vật tư đầu vào hoặc một số nguy cơ ô nhiễm. Vì vậy, một phiếu kiểm nghiệm riêng lẻ không thay thế được việc đánh giá cả quá trình.
Nếu phát hiện điểm không phù hợp, cơ sở phải thực hiện hành động khắc phục và cung cấp bằng chứng. Chẳng hạn, thiếu hồ sơ nguồn gốc vật tư, nhật ký không đầy đủ hoặc chưa kiểm soát được nguy cơ lẫn sản phẩm đều cần được xử lý trước khi xem xét chứng nhận.
Tổ chức chứng nhận thẩm xét kết quả đánh giá, hồ sơ khắc phục và các bằng chứng liên quan để quyết định. Việc cấp giấy chỉ được thực hiện khi cơ sở đáp ứng đầy đủ yêu cầu.
Nhận giấy chứng nhận và tiếp tục duy trì
Khi được cấp giấy, cơ sở cần kiểm tra kỹ tên chủ thể, tiêu chuẩn áp dụng, sản phẩm, địa điểm, phạm vi và thời hạn hiệu lực. Không được dùng chứng nhận của một sản phẩm, khu vực hoặc thành viên để quảng bá cho toàn bộ hoạt động ngoài phạm vi được chứng nhận.
Theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 109/2018/NĐ-CP, giấy chứng nhận sản phẩm phù hợp TCVN về nông nghiệp hữu cơ có giá trị hai năm. Thời hạn này cần được phân biệt với quy định của các chương trình chứng nhận quốc tế hoặc nước ngoài.
Sau chứng nhận, cơ sở vẫn phải duy trì quy trình, ghi chép hồ sơ và chấp nhận hoạt động giám sát. Tần suất, hình thức đánh giá được thực hiện theo quy định và chương trình áp dụng; không nên mặc nhiên hiểu mọi cuộc kiểm tra đều được báo trước.
Khi bổ sung diện tích, sản phẩm, thành viên hoặc thay đổi quy trình có liên quan, cơ sở cần thông báo để tổ chức chứng nhận xem xét. Phần mở rộng chưa được đánh giá, chấp thuận không tự động thuộc phạm vi chứng nhận hiện có. Trước khi giấy hết hiệu lực, cơ sở cần chủ động làm thủ tục đánh giá lại theo hướng dẫn, tránh gián đoạn việc sử dụng chứng nhận và ghi nhãn.
Chứng nhận hữu cơ tạo căn cứ để người mua nhận biết sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn trong phạm vi đã được đánh giá. Tuy nhiên, chứng nhận không đồng nghĩa sản phẩm tuyệt đối không có rủi ro, cũng không bảo đảm chắc chắn tăng năng suất hoặc bán được giá cao.
Điều người sản xuất cần chuẩn bị là một hệ thống có thể thực hiện và duy trì: quy trình rõ, vật tư được kiểm soát, hồ sơ trung thực và sản phẩm truy xuất được. Giấy chứng nhận là kết quả của quá trình ấy, đồng thời là cam kết tiếp tục tuân thủ trong suốt thời gian sản xuất.
