Chuyển đổi xanh - cơ hội nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt

Trong bối cảnh các tiêu chuẩn về môi trường, phát thải, sử dụng tài nguyên và truy xuất nguồn gốc ngày càng trở thành điều kiện tiếp cận thị trường, chuyển đổi xanh đang tạo những sức ép không nhỏ đối với doanh nghiệp.

Ảnh minh hoạ.

Ảnh minh hoạ.

Tuy nhiên, nếu được nhìn nhận như một quá trình nâng cấp năng lực sản xuất và quản trị, sức ép này hoàn toàn có thể chuyển hóa thành động lực đổi mới, mở rộng thị trường và nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt trong giai đoạn phát triển mới.

Từ yêu cầu thích ứng đến động lực đổi mới

Chuyển đổi xanh đang trở thành xu hướng có ảnh hưởng ngày càng rõ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và tổ chức chuỗi cung ứng toàn cầu. Nếu trước đây, các yêu cầu về bảo vệ môi trường thường được nhìn nhận như một nghĩa vụ bổ sung, thì hiện nay, yếu tố “xanh” đang đi sâu vào chính cấu trúc cạnh tranh của thị trường. Một sản phẩm không chỉ được đánh giá qua chất lượng, giá thành hay tiến độ giao hàng mà còn được xem xét về nguồn gốc nguyên liệu, mức tiêu hao năng lượng, lượng phát thải trong quá trình sản xuất và khả năng chứng minh những thông tin đó bằng dữ liệu minh bạch. Sự thay đổi này cho thấy tiêu chuẩn cạnh tranh đang dịch chuyển từ khả năng “sản xuất được” sang “quá trình sản xuất diễn ra như thế nào”, từ năng lực cung ứng đơn thuần sang năng lực tạo ra giá trị theo hướng hiệu quả và bền vững hơn.

Điều đó thể hiện khá rõ qua việc Cơ chế điều chỉnh carbon qua biên giới của Liên minh châu Âu (CBAM) bước vào giai đoạn chính thức từ 1/1/2026. Cơ chế này áp dụng đối với một số nhóm hàng như sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, hydro và điện, phản ánh xu hướng đưa chi phí carbon và yêu cầu môi trường vào các điều kiện thương mại quốc tế. Với một nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam, đây không còn là câu chuyện có thể đứng ngoài. Áp lực không chỉ dừng ở doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu mà còn có thể lan xuống toàn bộ chuỗi cung ứng, khi các doanh nghiệp lớn yêu cầu nhà cung cấp đáp ứng những tiêu chuẩn tương tự về phát thải, nguồn nguyên liệu và quản trị môi trường.

Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận chuyển đổi xanh như một sức ép tuân thủ, doanh nghiệp rất dễ rơi vào tâm thế bị động. Khi đó, xanh hóa được nhìn nhận chủ yếu như những khoản chi phí đầu tư thiết bị, hoàn thiện hồ sơ hay đáp ứng tiêu chuẩn của khách hàng. Cách nhìn này có thể khiến chuyển đổi xanh trở thành một “gánh nặng”, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn còn hạn chế về vốn, công nghệ và nhân lực. Nhưng xét từ bản chất hoạt động sản xuất, nhiều yêu cầu của chuyển đổi xanh lại trùng với những mục tiêu doanh nghiệp luôn theo đuổi: Giảm chi phí, hạn chế lãng phí, nâng hiệu suất và kiểm soát tốt hơn quá trình vận hành.

Một dây chuyền tiêu hao quá nhiều điện không chỉ tạo ra phát thải lớn hơn mà trước hết làm tăng chi phí sản xuất. Một quy trình có tỷ lệ phế phẩm cao đồng nghĩa với phần nguyên liệu doanh nghiệp đã bỏ tiền mua nhưng không chuyển hóa được thành giá trị. Tương tự, việc thiếu dữ liệu về năng lượng, nguyên liệu hay phát thải không chỉ gây khó khăn khi đáp ứng tiêu chuẩn xanh mà còn hạn chế khả năng nhận diện những điểm kém hiệu quả trong hoạt động sản xuất. Vì vậy, tiết kiệm năng lượng, giảm thất thoát nguyên liệu, tái sử dụng phụ phẩm hay cải tiến công nghệ cần được nhìn nhận như những giải pháp nâng hiệu quả kinh doanh. Khi đặt trong logic đó, chuyển đổi xanh trở thành một quá trình tái cấu trúc để doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn.

Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp trong nước đã từng bước đổi mới công nghệ, tối ưu hóa năng lượng, sử dụng tài nguyên hiệu quả và phát triển các mô hình sản xuất sạch, kinh tế tuần hoàn. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển đổi xanh không nhất thiết phải bắt đầu bằng những dự án đầu tư quy mô lớn mà quan trọng hơn là hình thành tư duy đo lường và cải tiến. Khi biết chính xác mỗi đơn vị sản phẩm tiêu tốn bao nhiêu điện, nước, nguyên liệu và phát sinh bao nhiêu phế phẩm, doanh nghiệp có cơ sở nhận diện điểm lãng phí, lựa chọn đúng khâu cần ưu tiên đầu tư. Những thay đổi từ cải tiến thiết bị, tổ chức lại quy trình đến tận dụng phụ phẩm có thể tạo hiệu quả thiết thực mà không đòi hỏi phải thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất.

Nhìn ở góc độ đó, chuyển đổi xanh cũng là quá trình nâng cấp năng lực quản trị. Doanh nghiệp càng hiểu rõ cách thức sử dụng nguồn lực trong từng công đoạn càng có khả năng kiểm soát chi phí, dự báo rủi ro và đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. Đây cũng là lý do các yêu cầu về môi trường ngày càng gắn chặt với chuyển đổi số và quản trị dữ liệu. Khi có khả năng đo lường mức tiêu hao, theo dõi phát thải và truy xuất quá trình sản xuất, doanh nghiệp không chỉ đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn thị trường mà còn tạo nền tảng để cải tiến liên tục. Chính từ những thay đổi thực chất này, sức ép xanh hóa có thể trở thành động lực nâng cao năng suất và hiện đại hóa hoạt động sản xuất.

Tạo lợi thế cạnh tranh từ giá trị xanh

Nếu chuyển đổi xanh chỉ dừng lại ở việc đáp ứng những yêu cầu bắt buộc, doanh nghiệp mới hoàn thành bước đầu của quá trình thích ứng. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng biến năng lực xanh thành lợi thế cạnh tranh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, dư địa phát triển của doanh nghiệp Việt Nam khó có thể tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào lao động giá rẻ, khai thác nhiều tài nguyên hay mở rộng sản xuất theo chiều rộng. Những yếu tố từng tạo lợi thế trong quá khứ đang dần thu hẹp khi nhiều nền kinh tế cùng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Lợi thế mới vì thế phải được tạo ra từ năng suất, công nghệ, chất lượng quản trị, khả năng thích ứng và mức độ đáp ứng những chuẩn mực ngày càng cao của thị trường.

Trong bối cảnh đó, giá trị sản phẩm không chỉ nằm ở công năng sử dụng hay mức giá bán mà còn ở toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm. Với những mặt hàng có chất lượng tương đương, doanh nghiệp kiểm soát tốt nguồn nguyên liệu, sử dụng năng lượng hiệu quả, có dữ liệu phát thải minh bạch và đáp ứng yêu cầu truy xuất sẽ có thêm cơ hội tiếp cận khách hàng lớn và những phân khúc có giá trị cao. Ngược lại, doanh nghiệp thiếu dữ liệu hoặc không chứng minh được quá trình sản xuất có thể gặp bất lợi khi tham gia các chuỗi cung ứng coi tiêu chuẩn môi trường là một phần của điều kiện lựa chọn nhà cung cấp. Bởi vậy, “giá trị xanh” đang dần trở thành một cấu phần quan trọng của giá trị thương mại.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào các mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu. Giai đoạn phát triển tiếp theo không thể chỉ dựa vào việc sản xuất nhiều hơn mà phải hướng đến tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi đơn vị lao động, vốn, năng lượng và nguyên liệu. Nếu cùng một lượng sản phẩm nhưng doanh nghiệp sử dụng ít điện hơn, giảm tỷ lệ phế phẩm và rút ngắn quy trình sản xuất, hiệu quả kinh tế đã được cải thiện. Nếu sản phẩm đó đồng thời đáp ứng những tiêu chuẩn cao hơn và tiếp cận được thị trường có giá trị lớn hơn, lợi ích còn được nhân lên. Đây chính là mối liên hệ trực tiếp giữa chuyển đổi xanh với nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng.

Để hiện thực hóa lợi thế đó, chuyển đổi xanh cần được đặt song hành với đổi mới công nghệ và chuyển đổi số. Dữ liệu về năng lượng, nguyên liệu, vận hành và phát thải phải dần trở thành một phần của hệ thống quản trị doanh nghiệp. Công nghệ số có thể hỗ trợ theo dõi mức tiêu hao, nhận diện công đoạn sử dụng năng lượng chưa hợp lý, quản lý dòng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là ứng dụng thêm công nghệ mà phải bảo đảm những khoản đầu tư này tạo ra thay đổi thực chất về năng suất và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Khi chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cùng hướng tới mục tiêu nâng cao giá trị sản xuất, doanh nghiệp mới có thể hình thành nền tảng cạnh tranh lâu dài.

Một thách thức đáng lưu ý là không ít doanh nghiệp vẫn tiếp cận chuyển đổi xanh theo tư duy ngắn hạn. Khi sức ép thị trường chưa trực tiếp, việc đầu tư thường bị trì hoãn; đến khi tiêu chuẩn trở thành điều kiện bắt buộc, doanh nghiệp mới tìm giải pháp thích ứng. Cách tiếp cận này có thể khiến chi phí chuyển đổi cao hơn và thời gian chuẩn bị ngắn hơn. Trong khi đó, lợi thế của doanh nghiệp đi trước không chỉ nằm ở việc đáp ứng tiêu chuẩn sớm mà còn ở khả năng tích lũy kinh nghiệm, xây dựng dữ liệu, đào tạo nhân lực và từng bước điều chỉnh mô hình sản xuất. Do đó, chuyển đổi xanh cần được coi là một phần của chiến lược phát triển doanh nghiệp, gắn trực tiếp với quyết định đầu tư, tổ chức sản xuất, lựa chọn công nghệ và xác định thị trường mục tiêu, thay vì chỉ là nhiệm vụ riêng của bộ phận môi trường hay kỹ thuật.

Ở tầm rộng hơn, quá trình chuyển đổi này đang có thêm những cơ chế hỗ trợ đáng chú ý. Chương trình hỗ trợ kinh doanh bền vững giai đoạn 2026-2030 được phê duyệt tại Quyết định số 926/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu hỗ trợ khoảng 25.000 doanh nghiệp, hộ kinh doanh và hợp tác xã kinh doanh bền vững; đồng thời hỗ trợ xây dựng ít nhất 20 mô hình kinh doanh bền vững thành công điển hình. Điểm đáng chú ý là Chương trình không chỉ hướng đến bảo vệ tài nguyên, môi trường mà còn nhấn mạnh mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp. Điều này cho thấy phát triển bền vững cần được tiếp cận trên cơ sở hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, trách nhiệm xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường, thay vì xem đây là những mục tiêu tách biệt.

Từ góc độ này, chuyển đổi xanh không đặt doanh nghiệp trước sự lựa chọn giữa tăng trưởng và bảo vệ môi trường. Bản chất của quá trình chuyển đổi là tạo ra nhiều giá trị hơn với ít nguồn lực hơn, đồng thời giảm những chi phí môi trường phát sinh trong sản xuất. Khi doanh nghiệp sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm nguyên liệu thất thoát, kéo dài vòng đời sản phẩm và mở rộng khả năng tái sử dụng, hiệu quả kinh tế và môi trường có thể cùng được cải thiện. Đây chính là cơ sở để nhìn nhận chuyển đổi xanh như một động lực nâng cao chất lượng tăng trưởng, thay vì một khoản chi phí phải chấp nhận.

Trong giai đoạn tới, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sẽ ngày càng phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những chuẩn mực mới của thị trường. Doanh nghiệp chủ động xanh hóa, có lộ trình phù hợp và biến yêu cầu môi trường thành động lực cải tiến sản xuất sẽ có nhiều cơ hội củng cố vị trí trong chuỗi giá trị. Khi áp lực thị trường được chuyển hóa thành động lực đổi mới, “xanh” sẽ không còn chỉ là một tiêu chuẩn phải đáp ứng mà trở thành giá trị tạo thêm thị trường, nâng năng suất và củng cố sức cạnh tranh. Đây cũng chính là dư địa quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam nâng chất lượng tăng trưởng và xây dựng nền tảng phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

ThS Nguyễn Phương Thảo - Khoa Luật, Học viện Ngân hàng

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/chuyen-doi-xanh-co-hoi-nang-suc-canh-tranh-cua-doanh-nghiep-viet-post798128.html